tương tác dược lực học- nhà thuốc ngọc anh uy tín

Enter your keyword

Tương tác thuốc dược lực học
5 (100%) 2 votes
  1. Tương tác dược lực học là gì?

Tương tác loại này gặp khi phối hợp các thuốc có tác dụng dược lý hoặc tác dụng phụ tương tự nhau hoặc đối kháng lẫn nhau. Đây là loại tương tác đặc hiệu, có thể biết trước nhờ kiến thức của thầy thuốc về tác dụng dược lý và tác dụng phụ của thuốc. Các thuốc có cùng cơ chế tác dụng sẽ có cùng một kiểu tương tác dược lực học.

Tương tác dược lực học có thể do:

  • Cạnh tranh tại vị trí tác dụng trên receptor.
  • Tác dụng trên cùng một hệ thống sinh lý. ;

Tương tác dược lực học chiếm phần lớn các tương tác gặp phải trong điều trị.

2. Các tương tác xẩy ra trên cùng receptor

** Những tương tác xẩy ra tại cùng một receptor giữa 2 thuốc thường dẫn dến hậu quá làm giám hoặc mất tác dụng, người ta gọi là tương tác đối kháng.

Ví dụ:

  • Atropin và Pilocarpin.
  • Morphin và Nalorphin.

Loại tương tác này thường được sử dung để giải độc thuốc.

Nói chung trong điều trị, các phối hợp thuốc trong cùng một nhóm đều là những phối hợp chống chỉ định hoặc nên tránh vì dẫn đến mất tác dụng do đẩy nhau ra khỏi receptor.

Ví dụ:

  • Propranolol và Isoprenalin.
  • Erythromycin và Lincomycin hoặc cloramphenicol.

3.Các tương tác xẩy ra trên cùng một hệ thống sinh lý

Những tưong tác xẩy ra tại các receptor khác nhau nhưng có cùng đích tác dung:

Các tương tác này thường dẫn đến tăng tác dụng và được gọi là tương tác hiệp đồng, tuỳ sự phối hợp có thể tạo nên tác dụng hiệp đồng cộng hơặc hiệp đồng tăng mức.

Ví dụ:

  • Phối hợp thuốc lợi tiểu với các thuốc chống tăng huyết áp để điều trị bệnh tăng huyết áp.
  • Phối hợp các kháng sinh có cơ chế tác dụng khác nhau trong điều trị lao.
  • Phối hợp kháng sinh với các thuốc giảm tiết HC1 được điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng.

Các dạng phối hợp này được lợi dụng rất nhiều trong điéu trị. Tuy nhiên, đây là loại tương tác loại rất khó phát hiện và phòng ngừa vì cơ chế tác dụng cùa các thuốc phối hợp có thể rất khác nhau, do đó người thầy thuốc khó đoán trước hâu quả. Thí dụ khi phối hợp một thuốc chống trầm cảm thuộc nhóm ức chế tái nhâp serotonin (selective serotonin recuptake inhibitor – SSRI) với một thuốc chống trầm cảm thuộc nhóm IMAO, cả 2 thuốc đều dẫn đến tăng nồng độ serotonin; hậu quả dẫn đến hội chứng serotonin do quá thừa chất này ở hệ TKTƯ.

Dấu hiệu của hội chứng serotonin thường bao gồm các biến đổi về trạng thái tâm thần và hành vi (lo lắng, kích động, hoảng loạn, lú lẫn, ảo giác…), biến đổi về hệ thống vận động (rung cơ, run rẩy, co cứng bàn chân, tay, mất phối hợp, loạn trương lực cơ kéo dài), sốt cao, toái mồ hôi, ỉa chảy…

Hội chứng serotonin cũng gặp khi phối hợp một chất SSR1 với tramadol thuốc giảm đau trung ương) vì tramadol không chỉ tác động lên thụ thể m-opioid mà còn ức chế tái nhập adrenalin và serotonin.

Các tương tác do phối hợp thuốc có cùng kiểu độc tính:

Đây là kiểu tương tác bất lợi thường gặp do vô tình sử dụng các thuốc có tác dụng điều trị khác nhau nhưng lại có độc tính trẽn cùng một cơ quan.

Ví dụ:

‘     – Phối hợp furosemid với gentamicin làm tăng độc tính trên thận và tai, dẫn đến

tăng nguy cơ suy thận và điếc.

– Các thuốc nhóm corticoid phối hợp với các thuốc chống viêm không steroid (NSAID) làm tăng nguy cơ xuất huyết tiêu hoá.

– Các thuốc gây hạ kali-máu (lợi tiểu quai hoặc thiazid, thuốc corticoid…) làm tăng độc tính trên tim của các digitalis.

Tăng độc tính cũng gặp khi phối hợp các thuốc cùng nhóm với nhau do có cùng một kiểu độc tính:

Ví dụ:

  • Phối hợp 2 thuốc chống viêm không steroid (aspirin và piroxicam) với nhau dẫn đến tăng tỷ lệ cháy máu và loét da dày.
  • Phối hợp 2 kháng sinh nhóm aminosid (gentamicin và amikacin) dẫn đến tăng khả năng giảm thính lực và suy thận.

copy ghi nguồn: https://nhathuocngocanh.com/

link bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *