Men vi sinh là gì? 8 lợi ích cho sức khỏe của men vi sinh

Men vi sinh là gì?

Men vi sinh (Probiotics) là các chế phẩm chứa vi sinh vật sống, khi được tiêu hóa với một lượng đủ lớn có thể mang lại lợi ích sức khỏe cho vật chủ. Định nghĩa về chế phẩm sinh học này được đưa ra năm 2001 bởi Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), và đã trở thành thuật ngữ tham khảo cho khoa học và các quy định sau đó. Nhu cầu về các sản phẩm chứa men vi sinh đang tăng cao trên toàn cầu do chúng ta liên tục có các bằng chứng nghiên cứu chỉ ra những lợi ích sức khỏe tiềm năng của chúng đối với người sử dụng.

Men vi sinh
Ảnh: Men vi sinh (Probiotics) là các chế phẩm chứa vi sinh vật sống

Hàng trăm loài vi khuẩn khác nhau là thành phần tự nhiên và chủ yếu của hệ vi sinh đường ruột. Trong vô số các vi khuẩn này, những vi khuẩn được dự đoán là có thể mang lại những lợi ích sức khỏe tiềm năng cho vật chủ thông qua điều hòa hệ vi sinh đường ruột thường được chọn làm men vi sinh. Các loài thuộc chi Lactobacillus và Bifidobacterium đã được báo cáo là các chủng vi khuẩn có lợi. Các loài đại diện bao gồm L. acidophilus, L. casei, L. plantarum, B. lactis, B. longum và B. bifidum. Một số lợi ích về sức khỏe chính của men vi sinh bao gồm cải thiện hệ vi sinh đường tiêu hóa, tăng cường hệ miễn dịch, giảm cholesterol huyết thanh, ngăn ngừa ung thư, điều trị tiêu chảy do hội chứng ruột kích thích, tác dụng hạ huyết áp cũng như cải thiện chuyển hóa lactose.

Các lợi ích cho sức khỏe của men vi sinh

Bệnh đường ruột và hệ miễn dịch

Viêm loét đại tràng và bệnh Crohn là những bệnh có liên quan đến khuynh hướng di truyền vi sinh đường ruột và môi trường. Phá vỡ sự cân bằng giữa hệ miễn dịch đường ruột và hệ vi sinh có thể dẫn đến các bệnh đường ruột này. Vi khuẩn đường ruột có thể thay đổi trạng thái cân bằng của nồng độ các cytokine tiền viêm và chống viêm. Các cytokine tiền viêm được sản xuất bởi tế bào Th1 và cytokine chống viêm do tế bào Th2 tiết ra rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng nội môi của hệ thống miễn dịch trong hàng rào ruột.

Các loại men vi sinh ngày càng được biết đến với khả năng ngăn ngừa và/hoặc điều trị các rối loạn đường ruột và cải thiện hệ thống miễn dịch ở cả mô hình in vitro và mô hình động vật. Nghiên cứu của Peran và các cộng sự (2005) với L. salivarius CECT 5713 trên chuột cho thấy sử dụng nó theo đường uống có thể có tác dụng chống viêm và giảm hoại tử ở nhóm được điều trị, sau đó là cải thiện tình trạng đại tràng. Nghiên cứu cho thấy sự phục hồi mô học rõ rệt và các biểu hiện MPO, TNF-α và iNOS đã giảm đáng kể.

Ngoài ra, sự điều hòa xuống TNF-α và COX-2, cũng như điều hòa lên các cytokine chống viêm như IL-4, IL-6 và IL-10 đã được quan sát thấy ở chuột bị viêm đại tràng được sử dụng L. plantarum 91 (Duary, 2011). Các nhà khoa học cũng thu được một kết quả in vivo tương tự khi sự gia tăng nồng độ cytokine IL-10 chống viêm và giảm cytokine tiền viêm được quan sát thấy ở chuột bị viêm đại tràng do natri dextran sulfate (DSS) được điều trị bằng L. kefiranofaciens M1. Ngoài ra, Ganguli và các cộng sự (2013) đã tiến hành một nghiên cứu để điều tra tác dụng của men vi sinh đối với bệnh viêm ruột hoại tử, một bệnh lý có thể gây tử vong ở trẻ sinh non. Nghiên cứu đã chứng minh rằng L. acidophilus ATCC 53103 và B. infantis ATCC 15697 có thể điều hòa đáp ứng viêm của ruột. Glycolipid hoặc glycan được tiết ra có thể là nguyên nhân của tác dụng chống viêm.

Mặt khác, một thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trên 187 bệnh nhân viêm loét đại tràng, L. rhamnosus GG (LGG) được sử dụng với liều 18×109 vi khuẩn sống/ngày, có hoặc không kết hợp với điều trị chuẩn bằng Mesalazine với liều 2400 mg/ngày. Sử dụng LGG hoặc kết hợp LGG và Mesalazine đã làm tăng thời gian không tái phát so với điều trị chuẩn (Zocco và các cộng sự, 2006).

Mặc dù phương pháp điều trị sử dụng men vi sinh cải thiện mức độ nghiêm trọng của bệnh bằng cách giảm phản ứng viêm, nhưng nó không thể điều trị được nguyên nhân gốc rễ thực sự. Hơn nữa, người ta cũng lo sợ nguy cơ nhiễm trùng cơ hội bởi các chủng probiotic. Vì vậy, sẽ cần nhiều thử nghiệm lâm sàng hơn để giải thích những tranh cãi liên quan đến vấn đề hiệu lực và an toàn nhằm cung cấp hiểu biết tốt hơn về cơ chế kiểm soát bệnh. Chúng ta cũng cần thời gian nghiên cứu dài hơn để chứng minh tính bền vững của các tác động tích cực với sức khỏe con người.

Hạ cholesterol máu

Men vi sinh được cho là có tác dụng hạ cholesterol máu thông qua nhiều cơ chế như đồng hóa cholesterol, liên kết cholesterol với bề mặt tế bào (Lye và các cộng sự, 2010), can thiệp vào sự hình thành micell trong sự hấp thu ở ruột và sự khử liên hợp acid mật thông qua bài tiết muối mật hydrolase (BSH) (Lambert và các cộng sự, 2008).

Tác dụng hạ cholesterol máu được biểu hiện bởi men vi sinh hầu hết được khẳng định là do hoạt động của BSH và nó có thể được phát hiện ở tất cả các chủng Lactobacilli và Bifidobacteria. Vai trò chính của BSH là khử liên hợp acid mật, làm cho muối mật ít tan hơn và được bài tiết ra ngoài nhiều hơn dưới dạng acid mật tự do qua phân. Điều này sẽ làm giảm cholesterol trong huyết thanh và tăng tổng hợp de novo để thay thế acid mật đã mất (Nguyễn và các cộng sự, 2007). Bên cạnh đó, cholesterol có thể được loại bỏ với lượng lớn hơn khi có mặt mật vì nó hoạt động như một chất hoạt động bề mặt và cho phép cholesterol bám vào màng tế bào vi khuẩn. Hiệu lực điều trị của từng chủng probiotic vẫn chưa được khám phá chi tiết về liều lượng và thời gian.

Da liễu

Các nghiên cứu gần đây cho thấy men vi sinh có thể cải thiện bệnh chàm cơ địa, chữa lành vết thương và sẹo, đồng thời giúp trẻ hóa làn da.

Cho đến nay, tác dụng của men vi sinh trên các bệnh ngoài da đã được nghiên cứu rộng rãi thông qua cả đường uống và đường tại chỗ. Tuy nhiên, dữ liệu nghiên cứu vẫn chưa thể kết luận được điều gì. Kết quả từ thử nghiệm lâm sàng của các phương pháp điều trị bằng men vi sinh là mâu thuẫn nhau do sự khác biệt về liều lượng, chủng probiotic, thời gian sử dụng và thời gian theo dõi.

Một nghiên cứu được thực hiện bởi Yesilova và các cộng sự (2012) đã tiết lộ rằng điều trị bằng men vi sinh có chứa B. bifidum, L. acidophilus, L. casei và L. salivarius có hiệu quả trong làm giảm chỉ số SCORing Atopic Dermatitis (SCORAD) của bệnh nhân viêm da cơ địa và giảm kích thích sản xuất cytokine. Mặt khác, Escherichia coli Nussle 1917 (EcN, serotype O6: K5: H1) đã được đánh giá là có lợi trong điều trị một số bệnh viêm mạn tính.

Lew và Liong (2013) đã báo cáo rằng một số hợp chất do vi khuẩn sản xuất như hyaluronic acid, lipoteichoic acid, peptidoglycan và sphingomyelinase cho thấy một số tác dụng có lợi trên da. Tuy nhiên, các cơ chế chính xác vẫn chưa rõ ràng và cần tiến hành nhiều nghiên cứu hơn để khám phá tiềm năng của các loại men vi sinh dùng trên da.

Vi khuẩn sản xuất lactic acid có thể tạo ra các peptide có hoạt tính sinh học được gọi là bacteriocin. Các chất này có hoạt tính kháng khuẩn chống lại các vi khuẩn gây bệnh khác. Phát hiện này có thể dẫn đến một phương pháp điều trị thay thế mới cho các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn, mặc dù cơ chế hoạt động chính xác vẫn chưa được xác định.

Răng miệng

Sâu răng

Các vi khuẩn trong men vi sinh có thể bám vào bề mặt răng và đối kháng với nhiều vi khuẩn gây bệnh răng miệng như liên cầu và Lactobacilli. Men vi sinh được kết hợp trong một sản phẩm từ sữa là pho mát có thể trung hòa tình trạng acid trong miệng và ngăn chặn quá trình khử khoáng của men răng.

Một nghiên cứu in vitro được thực hiện bởi Ahola và các cộng sự (2002) đã tiết lộ rằng L. rhamnosus GG có khả năng ức chế sự xâm nhập của các mầm bệnh liên cầu khuẩn, từ đó giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh sâu răng ở trẻ em. Nase và các cộng sự (2001) đã chứng minh được sự giảm đáng kể tình trạng sâu răng và giảm lượng nước bọt của S. mutans ở bệnh nhân sau khi tiêu thụ các sản phẩm sữa có chứa L. rhamnosus trong 7 tháng. Một nghiên cứu in vitro được thực hiện bởi Haukioja và các cộng sự (2008) cũng tiết lộ rằng Lactobacilli và Bifidobacteria có thể thay đổi thành phần protein của lớp nước bọt và do đó đặc biệt ngăn chặn sự bám dính của S. mutans.

Ngoài ra, Nikawa và các cộng sự (2004) tiết lộ rằng việc tiêu thụ sữa chua chứa L. reuteri trong 2 tuần làm giảm nồng độ S. mutans trong nước bọt lên đến 80%.

Bệnh nha chu

Các tác nhân gây bệnh chính như Porphyromonas gingivalis, Treponema denticola và Tannerella forsythia có nhiều đặc điểm độc lực cho phép chúng xâm chiếm vị trí dưới mô, can thiệp vào hệ thống miễn dịch của vật chủ và gây tổn thương mô. Hojo và các cộng sự (2007) báo cáo rằng L. salivarius, L. gasseri, L. fermentum và Bifidobacterium là một trong những loài vi khuẩn phổ biến cư trú trong khoang miệng và có ý nghĩa đối với sự cân bằng sinh thái trong miệng.

Krasse và các cộng sự (2006) phát hiện ra rằng sau 2 tuần ăn kẹo cao su có chứa L. reuteri, khoang miệng của những bệnh nhân bị viêm nướu từ trung bình đến nặng đã bị chủng vi khuẩn này xâm chiếm và mảng bám đã giảm đáng kể. Nghiên cứu của Riccia và các cộng sự (2007) cho thấy sau 4 ngày điều trị bằng viên ngậm chứa L. brevis, bệnh nhân đã có sự cải thiện tích cực về chỉ số mảng bám, chỉ số nướu và chảy máu. Hơn nữa, nồng độ prostaglandin E2 (PGE2) và metalloproteinase nền (MMPs) trong nước bọt cũng giảm đáng kể, có thể là do L. brevis ngăn chặn sự sản xuất oxide nitric (NO), do đó ức chế sự biểu hiện PGE2 và hoạt hóa MMPs.

Các nghiên cứu gần đây đã báo cáo khả năng ức chế sự phát triển của các tác nhân gây bệnh như P. gingivalis, Prevotella intermedia và Aggregatibacter actinomycetemcomitans của vi khuẩn Lactobacilli. Theo Koll-Klais và các cộng sự (2005), Lactobacilli đường uống được phân lập đã ngăn chặn sự phát triển của S. mutans, A. actinomycetemcomitans, P. gingivalis và P. intermedia lên tới 69%, 88%, 82% và 65% tương ứng.

Cần có các nghiên cứu toàn diện hơn để làm rõ mối tương quan giữa việc tiêu thụ thường xuyên sản phẩm có chứa men vi sinh và sự cải thiện bệnh nha chu.

Hôi miệng

Mùi khó chịu từ khoang miệng trong chứng hôi miệng là do các hợp chất lưu huỳnh dễ bay hơi (VSC) được tạo ra bởi vi khuẩn kỵ khí khi phân hủy protein trong thực phẩm. Fusobacterium nucleatum, P. gingivitis, P. intermedia và T. denticola là những vi khuẩn chịu trách nhiệm sản xuất VSC. Kang và các cộng sự (2006) cho rằng sự sản xuất hydrogen peroxide (H2O2) của Weisella cibaria gây ức chế sự phát triển của F. nucleatum. Họ cũng phát hiện ra rằng dung dịch súc miệng có chứa W. cibaria làm giảm sản xuất hydrogen sulfide (H2S) và methanethiol (CH3SH) bởi F. nucleatum.

Cần có nhiều nghiên cứu lâm sàng hơn để thiết lập tác dụng tiềm năng của men vi sinh trong sức khỏe răng miệng. Cần có nhiều nghiên cứu hơn để xác định các chủng lợi khuẩn an toàn nhất, quần thể mục tiêu tối ưu, liều lượng và phương thức sử dụng tối ưu. Tác dụng của men vi sinh đối với sức khỏe răng miệng và việc duy trì nó vẫn chưa rõ ràng. Ảnh hưởng lâu dài của việc tiêu thụ men vi sinh vẫn còn khá mơ hồ.

Tiêu chảy do kháng sinh

Các đợt tiêu chảy nhẹ hoặc nặng là tác dụng phụ thường gặp khi sử dụng kháng sinh vì hệ vi sinh bình thường của đường ruột có xu hướng bị ức chế, kích khích sự phát triển quá mức của các chủng vi khuẩn cơ hội hoặc gây bệnh. Một trường hợp nghiêm trọng của tiêu chảy do sử dụng kháng sinh là tiêu chảy liên quan đến Clostridium difficile, với các triệu chứng điển hình là tiêu chảy, chướng bụng, nôn mửa, sốt, tăng bạch cầu và nếu không được điều trị có thể dẫn đến các biến chứng như phình đại tràng nhiễm độc hoặc thủng đại tràng. Điều trị tình trạng này bao gồm cắt bỏ kháng sinh, điều chỉnh rối loạn cân bằng nước và điện giải và trong trường hợp nghiêm trọng cần điều trị bằng Metronidazole hoặc Vancomycin đường uống. Điều trị bằng men vi sinh đã được ứng dụng trong thực hành lâm sàng với L. rhamnosus và S. boulardii. Một số nghiên cứu đã được thực hiện cho thấy rằng sử dụng men vi sinh có liên quan đến việc giảm nguy cơ tiêu chảy do kháng sinh. Một phân tích tổng hợp đánh giá các bằng chứng hiện có về men vi sinh trong phòng ngừa và điều trị tiêu chảy do kháng sinh đã kết luận rằng việc sử dụng men vi sinh (cụ thể là L. rhamnosus, L. casei và nấm men S. boulardii) có liên quan đến việc giảm nguy cơ của tình trạng này.

Các vấn đề cần nghiên cứu trong tương lai bao gồm liều lượng tối ưu của men vi sinh và hiệu quả so sánh của các loại men vi sinh khác nhau.

Tiêu chảy do nhiễm trùng

Điều trị và ngăn ngừa tiêu chảy trong nhiễm trùng có lẽ là những lợi ích sức khỏe được chấp nhận rộng rãi nhất của các vi khuẩn probiotic. Rotavirus là nguyên nhân phổ biến nhất gây tiêu chảy cấp ở trẻ sơ sinh trên thế giới và là nguyên nhân đáng kể gây tử vong. Việc bổ sung men vi sinh trong sữa công thức dành cho trẻ sơ sinh nhằm mục đích ngăn ngừa nhiễm trùng do virus và điều trị bệnh. Các nghiên cứu lâm sàng đối chứng tốt đã chỉ ra rằng các men vi sinh chứa L. rhamnosus GG, L. reuteri, L. casei Shirota và B. animalis Bb12 có thể rút ngắn thời gian bị tiêu chảy cấp do Rotavirus, với bằng chứng cho thấy hiệu quả rõ ràng nhất là của L. rhamnosus GG và B. animalis Bb12. Trong một nghiên cứu tiền cứu, ngẫu nhiên, có đối chứng của Pháp được thực hiện trên trẻ em tại nhà trẻ, sản phẩm sữa chua probiotic chứa L. casei đã rút ngắn đáng kể thời gian tiêu chảy so với sản phẩm thông thường.

Men vi sinh
Ảnh: Rotavirus gây tiêu chảy cấp ở trẻ sơ sinh

Một số nghiên cứu đã điều tra hiệu quả của men vi sinh trong việc ngăn ngừa bệnh tiêu chảy du lịch ở người lớn. Mặc dù các kết quả khá trái ngược nhau, do sự khác biệt trong quần thể nghiên cứu, loại men vi sinh được điều tra, liều lượng sử dụng cũng như điểm đến của chuyến đi và sự tuân thủ của khách du lịch, L. rhamnosus GG, S. boulardii, L. acidophilus và B. bifidum dường như thể hiện hiệu quả đáng kể. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra tác dụng ức chế của men vi sinh chống lại các tác nhân gây bệnh đường ruột, chủ yếu thông qua việc sản xuất các bacteriocin.

Không dung nạp lactose

Không dung nạp lactose là tình trạng thiếu hụt enzyme β-galactosidase, dẫn đến không thể thủy phân lactose thành các monosaccharide là glucose và galactose. Khi đến ruột già, đường lactose không tiêu hóa được sẽ bị phân hủy bởi các enzyme của vi khuẩn dẫn đến tiêu chảy thẩm thấu. Tình trạng thiếu hụt enzyme này có thể do di truyền, cũng có thể do các nguyên nhân khác có thể phục hồi được như xạ trị vùng chậu, nhiễm trùng Rotavirus hoặc hội chứng ruột ngắn. Những người không dung nạp lactose bị tiêu chảy, khó chịu ở bụng và đầy hơi sau khi uống sữa hoặc sử dụng các sản phẩm từ sữa. Sử dụng chế phẩm men vi sinh chứa S. thermophilus và L. delbrueckii ssp. Bulgaricus có thể hiệu quả trong cải thiện tình trạng này. Khi một số cá nhân đã có phản ứng tích cực với việc bổ sung men vi sinh, các bác sĩ lâm sàng nên coi nó như một phương pháp điều trị thay thế.

Các lợi ích sức khỏe khác

Có bằng chứng cho thấy bổ sung men vi sinh trong chế độ ăn uống có thể đóng vai trò trong giảm tỷ lệ mắc ung thư. Các cơ chế chính xác đang được điều tra, nhưng các nghiên cứu đã chứng minh rằng một số thành viên của chi Lactobacillus và Bifidobacterium spp. làm giảm nồng độ của các enzyme gây ung thư được tạo ra bởi hệ vi sinh đại tràng thông qua việc bình thường hóa tính thẩm thấu của ruột và cân bằng hệ vi sinh, cũng như sản xuất các acid hữu cơ chống ung thư và tăng cường hệ miễn dịch vật chủ.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, các chủng lợi khuẩn được sử dụng trong các sản phẩm từ sữa đã cho thấy cải thiện kết quả điều trị ở phụ nữ bị viêm âm đạo do vi khuẩn, có thể là nhờ hỗ trợ hệ vi sinh Lactobacilli trong âm đạo trở về bình thường

Tài liệu tham khảo

Shi LH, Balakrishnan K, Thiagarajah K, Mohd Ismail NI, Yin OS. Beneficial Properties of Probiotics (https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5031164/). Trop Life Sci Res. 2016; 27(2): 73-90. doi: 10.21315/tlsr2016.27.2.6.

Kechagia M, Basoulis D, Konstantopoulou S, et al. Health benefits of probiotics: a review.(https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4045285/) ISRN Nutr. 2013; 2013: 481651. Published 2013 Jan 2. doi: 10.5402/2013/481651.

Xem thêm:

CÓ NÊN CHO KÈM MEN VI SINH KHI SỬ DỤNG KHÁNG SINH??

Phân biệt men tiêu hóa và men vi sinh

Ngày viết:

One thought on “Men vi sinh là gì? 8 lợi ích cho sức khỏe của men vi sinh

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *