Enter your keyword

Climen

Còn hàng N/A .
10 17/01/2019 11:40:52

Mô tả

Climen
5 (100%) 1 vote

Nhà thuốc Ngọc Anh xin giới thiệu đến quý khách sản phẩm thuốc Climen được sử dụng trong liệu pháp điều trị hormon thay thế (HRT) để điều trị các rối loạn của thời kỳ mãn kinh, những dấu hiệu thoái triển của da và đường niệu sinh dục, trạng thái trầm cảm thời kỳ mãn kinh, những triệu chứng thiếu hụt sau khi ngừng chảy máu kinh. Climen còn điều trị cho các bệnh gây ra chủ yếu do suy giảm các cơ quan sinh dục (giảm năng tuyến sinh dục), sau khi cắt buồng trứng hoặc buồng trứng không hoạt động bình thường (suy giảm chức năng buồng trứng). Dưới đây là các thông tin chi tiết về sản phẩm này.

Thuốc Climen giá bao nhiêu? mua ở đâu?

Thuốc Climen giá .000 VNĐ/Hộp bán tại nhà thuốc Ngọc Anh, chúng tôi giao hàng toàn quốc, tư vấn miễn phí 098 572 9595.

Thành phần

Hoạt chất:

Mỗi viên nén bao màu trắng chứa:

Estradiol valerate………………………………..2.0 mg

Mỗi viên nén màu hồng chứa

Estradiol valerate……………………………….2.0 mg

Cyproterone acetate…………………………..1 mg

Tá dược:

  • Tinh bột ngô
  • Povidone (K 25)
  • magnesi stearate
  • Sucrose
  • Povidone (K90)
  • PEG 6000
  • Calci carbonat
  • Bột talc
  • Sáp Montanglycol
  • Lactose
  • Glycerol 85%
  • Titan dioxid
  • Oxit sắt hydrat
  • Oxit sắt III.

Mô tả sản phẩm

Viên nén bao đường

Thuốc Climen có tác dụng gì?

  • Climen được sử dụng trong liệu pháp điều trị hormon thay thế (HRT) để điều trị các rối loạn của thời kỳ mãn kinh, những dấu hiệu thoái triển của da và đường niệu sinh dục, trạng thái trầm cảm thời kỳ mãn kinh, những triệu chứng thiếu hụt sau khi ngừng chảy máu kinh. Climen còn điều trị cho các bệnh gây ra chủ yếu do suy giảm các cơ quan sinh dục (giảm năng tuyến sinh dục), sau khi cắt buồng trứng hoặc buồng trứng không hoạt động bình thường (suy giảm chức năng buồng trứng).
  • Điều trị ngăn ngừa chứng loãng xương thời kỳ sau mãn kinh.
  • Điều trị rối loạn kinh nguyệt.
  • Điều trị chứng mất kinh nguyên phát hoặc thứ phát.

Liều lượng và cách dùng

Cách dùng thuốc Climen

Đường uống

Bắt đầu sử dụng Climen:

  • Nếu bạn vẫn đang có chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng, bạn nên bắt đầu dùng Climen vào ngày thứ 5 của chu kỳ (Ngày ra máu đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt tức là ngày thứ nhất của chu kỳ).   ,
  • Những bệnh nhân bị mất kinh hoặc ra máu không đều có thể bắt đầu điều trị bằng Climen ngay theo chỉ định của Bác sĩ miễn là loại trừ được khả năng mang thai.
  • Mỗi vỉ thuốc dùng cho 21 ngày điều trị; Nên bắt đầu dùng vỉ thuốc mới sau khi đà ngừng uống thuốc 7 ngày. Có nghĩa là bạn bắt đầu vỉ thuốc mới đúng vào ngày bắt đầu của các tuần trước đó.
  • Nuốt viên thuốc kèm theo một ít nước.
  • Nên uống thuốc vào một thời điểm cố định hàng ngày.

Liều dùng thuốc

Uống viên thuốc màu trắng hàng ngày trong 11 ngày đầu sau đó uống tiếp viên thuốc màu hồng trong 10 ngày sau. Sau 21 ngày uống thuốc sẽ ngừng uống 7 ngày.

Quên uống thuốc

Trong trường hợp quên uống thuốc, cần uống ngay viên thuốc quên đó càng sớm càng tốt. Nếu nhiều hơn 24 giờ, không uống viên thuốc đã quên. Nếu quên uống thuốc trong vài ngay, hiện tượng chảy máu kinh nguyệt bất thường có thể xảy ra.

Hiện tượng ra máu của chiu kỳ kinh nguyệt thường xảy ra trong 7 ngày ngưng uống thuốc, có thể một vài ngày sau khi uống viên thuốc cuối cùng.

Liều dùng cho trẻ em

Trẻ em và trẻ vị thành niên

  • Climen không được chỉ định cho trẻ em và trẻ vị thành niên.

Liều dùng cho bệnh nhân cao tuổi

  • Không có dữ liệu cho thấy cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân cao tuổi, ở những phụ nữ từ 65 tuổi trở lên xin xem mục ‘Cảnh báo và thận trọng”.

Liều dùng cho người có bệnh thận và gan

Bệnh nhân suy gan

Chưa có nghiên cứu riêng cho bệnh nhân suy gan. Chống chỉ định dùng Climen ở những phụ nữ bị suy gan nặng (xem mục Chống chỉ định).

Bệnh nhân suy thận

Chưa có nghiên cứu riêng cho bệnh nhân suy thận. Dữ liệu hiện có không gợi ý đến sự cần thiết phải điều chỉnh liều ở nhóm đối tượng này.

Chống chỉ định

Không nên bắt đầu sử dụng liệu pháp hormon thay thế nếu bạn đang hoặc đã từng mắc các tỉnh trạng liệt kê dưới đây. Trường hợp các hiện tượng này xuất hiện khi đang sử dụng HRT, bạn phải ngừng uống thuốc ngay lập tức.

  • Khi có thai hoặc đang cho con bú
  • Chảy máu âm đạo không rõ nguyên nhân;
  • Ưng thư vú hoặc nghi bị ung thư vú;
  • Cố hoặc bị nghi có các khối u liên quan đến hormon sinh dục;
  • Đã bị hay đang bị u gan (lành tính hoặc ác tính) hoặc các bệnh về gan trầm trọng khác;
  • Bị đau tim đột quỵ trong thời gian gan đây;
  • Đã hoặc đang mắc chứng nghẽn mạch huyết khối (dạng máu cục) trong mạch máu ở chân (nghẽn mạch huyết khối sâu) hoặc ở phổi (sự tắc mạch phổi);
  • Nguy cơ cao mắc huyết khối động mạch hoặc tĩnh mạch.
  • Có triglycerides trong máu (một dạng có mỡ trong máu đặc biệt);
  • Mần cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc

Khi sử dụng thuốc Climen cần lưu ý những điều gì?

Climen không phải là thuốc ngừa thai.

Trong nhùng trường hợp dùng Climen, phải thực hiện tránh thai được bằng các phương pháp không dùng hormon (trừ phương pháp tinh vòng kinh và đo nhiệt độ). Trong trường hợp nghi ngờ có thai, phải ngừng uống thuốc ngạy lập tức cho đến khi nguy cơ có thai được loại bỏ. Trước khi bắt đầu sự dụng liều pháp, cần cân nhắc các điều kiện và nguy cơ được liệt kê dưới đây để quyết định về lợi ích cùng như rủi ro khi điều trị cho bệnh nhân.

Khi đang điều trị bằng liệu pháp này, cần ngưng thuốc ngay lập tức nếu phát hiện chống chỉ định hoặc khi xuất hiện các tình trạng dưới đây:

  • Xuất hiện lần đầu tiên đau nửa đầu hoặc thỉnh thoảng hay thường xuyên đau đầu trầm trọng hoặc các triệu chứng khác báo trước nguy cơ tắc mạch não.
  • Sự tái phát của bệnh vàng da tắc mật hoặc ngứa do tắc mạch xuất hiện lần đầu tiên khi đang mang thai hoặc sử dụng các Steroid sinh dục trước đây.
  • Có tnệu chứng hoặc nghi vấn tắc mạch.

Trong trường hợp các nguy cơ này xuất hiện lần đầu hoặc tái xuất hiện, cần thực hiện phân tích lợi ích cũng như nguy cơ của liệu pháp này đồng thơi cân nhắc khả năng ngừng sử dụng liệu pháp hormon thay thế

Cần cân nhắc tới khả năng tăng cộng hợp nguy cơ huyết khối ở những phụ nữ cố đồng thời nhiều yếu tố nguy cơ hoặc có một yếu tố nguy cơ ở mức độ nặng. Điều này sẽ nghiêm trọng hơn nhiều chứ không chỉ đơn giản là tổng của các yếu tố nguy cơ. Không áp dụng trị liệu thay thế hormon (HRT) cho những trường hợp nguy cơ vượt trội lợi ích.

Nghẽn mạch huyết khối

Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng HRT có thể liên quan đến sự tăng nguy cơ phát triển bệnh huyết tắc tình mạch (VTE), ví dụ như tắc khối tĩnh mạch sâu hoặc tắc mạch phổi, cần phải cân nhắc cẩn thận giữa nguy cơ và lợi ích của việc dùng thuốc và tư vấn cho bệnh nhân về nguy cơ rủi ro tắc khối tĩnh mạch khi sử dụng HRT ở phụ nữ.

Nhìn chung, những yếu tố rủi ro đối với huyết khối tĩnh mạch có thể được nhận biết bao gồm tiền sử cá nhân, tiền sử gia đình (xảy ra huyết khối tĩnh mạch ở những người cố quan hệ trực tiếp khi tuổi còn trẻ có thể chỉ ra khuynh hướng di truyền) và bệnh béo phì trầm trọng. Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch tăng theo tuổi. Không có sự nhất trí về vai trò có thể có của gian ‘tĩnh chất của tùng trường hợp và thời gian bất động, cần phải xem xét đến việc tạm thời ngừng dùng HRT.

Thuyên tắc huyết khối động mạch

Hai thử nghiệm lâm sàng lớn đã được tiến hành khi kết hợp equine estrogen liên hợp (CEE: conjugated equine estrogens) và medroxyprogestogen acetate (MPA), loại hormon được sử dụng trong liệu pháp hormon thay thế cho thấy nguy cơ bệnh mạch vành (CHD: coronary heart disease) có thể tăng nhẹ trong năm đầu tiên sử dụng. Một thử nghiệm lâm sàng với CEE đơn thuần cho thấỵ có khả năng giảm tỉ lệ CHD ờ phụ nữ trong độ tuổi từ 50-59 và hoàn toàn không có lợi ích đối với toàn bộ nhóm dân số tham, gia nghiên cứu. Trong hai thử nghiêm, lâm sàng lớn với CEE đơn trị hoặc kết hợp với MPA, kết quả phụ cho thấy có sự tăng nguy cơ đột quỵ từ 30% đến 40%. Những phát hiện này hiện chưa xác định chắc chắn là có thể mở rộng áp dụng cho các sản phẩm hormon thay ‘thế (HRT: Hormone Replacement Therapy) khác hoặc áp dụng cho các đường dùng khác ngoài đường uống của cùng loại hormone này hay không.

Các bệnh của tủi mật

Estrogen đựợc cho là làm tăng nguy cơ hỉnh thành sỏi mật. Một số phụ nữ cố khả năng mắc các bệnh về túi mật trong thời gian sử dụng liệu pháp Estrogen.

Chứng mất trí nhớ

Các thử nghiệm lâm sàng với liều dùng có chứa CEE cho thấy rất ít khả năng làm tăng nguy cơ mất trí nếu bắt đầu sử dung liệu pháp hormon này ở những phụ nữ trên 65 tuổi. Trong một số nghiên cứu khác cho thấy nguy cơ này có thể giảm nếu điều trị được bắt đầu trong giai đoạn đầu của thời kỳ mãn kinh. Người ta chưa xác định được rằng những phát hiện này có tương tự như đối với các chế phẩm thay thế hormone khác hay không.

Khả năng sinh ung thư:

Ung thư vú

Theo dõi các nghiên cứu và triệu chứng trên lâm sàng cho thấy nguy cơ ung thư vú được chẩn đoán xác định tăng lên ở mức độ vừa phai đối với những phụ nữ đã sử dụng liệu pháp thay thê hormone trong vài năm. Sự phát hiện này có thể là do được chân đoán sớm hơn, dọ tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các khối u có sẵn, hoặc do cả hai. Đánh giá tổng quát mối liên hệ về nguy cơ đối với những trường hợp ung thư vú được chẩn đoán trong hơn 50 nghiên cứu dịch tễ học phần lớn các nghiên cứu được ghi nhận ở từ yếu tố ngụy cơ từ 1 đến 2.

Các nguy cơ cố liên quan tăng theo thời gian điều trị và có thể thấp hơn hoặc không tăng nêu điều trị bằng các sản phẩm chi chứa estrogen.

Hai thử nghiệm ngẫu nhiên đối với CEE đơn thuần hoặc kết hợp lớn với MPA cho thấy nguy cơ tương ưng là 0,77 (95% Cl; 0,59-1.01) hoặc 1,24 (95% Cl; 1,01-1,54) sau 6 năm sử dụng liệu pháp hormone thay thế, Người ta cũng không biết liệu nó có đúng vơi các chế phẩm thay thế hormone khác hay không.

Người ta cũng quan sát thấy nguy cơ ung thư vú đựợc chẩn đoán tăng lên tương tự trong một số trường hợp nhu: quá trình màn kinh tự nhiên diễn ra chậm, uống rượu, hoặc béo phì.

Sự tăng lên này mất đi trong một vài năm sau khi ngưng sư dụng HRT.

Liệu pháp horinon thay thế làm tăng mật độ của hình ảnh chụp tia X quang tuyến vú. Trong một vài trường hợp, điều này có thể làm ảnh hưởng đến sự phát hiện ung thư vú từ hỉnh ảnh chụp tia X quang.

Ung thư nội mạc tử cung:

Sử dụng lâu dài Estrogen đơn thuần có thể làm gia tăng nguy cơ xuất hiện tăng sinh nội mạc tử cung hoặc ung thư nội mạc tử cung. Các nghiên cứu cũng đã gợi ý rằng khi điều trị kết hợp với Progestogen sẽ làm giảm nguy cơ tăng sinh và/ hoặc ung thư nội mạc tử cung.

U gan

Trong một số hiếm trường hợp, xuất hiện u gan lành tính và hiếm hơn nữa là u gan ác tính cũng đã được báo cáo sau khi sử dụng các chế phẩm có chứa các hormone có thành phần giống với thuốc sử dụng trong liệu pháp thay thế hormone. Trong một vài trường hợp riêng lẻ có thể xảy ra xuất huyết nặng trọng ổ bụng đe doạ tính mạng bệnh nhân. Nên nghĩ đến khả năng có khối u gan băng các chẩn đoán phân biệt trọng trường hợp có triệu chứng đau vùng bụng trên, gan to hoặc có dấu hiệu chảy máu trong ổ bụng.

Các triệu chứng khác:

Mối liên hệ giữa việc sử dụng HRT và bệnh tăng huyết áp trên lâm sàng chưa được xác định. Hiên tượng tăng nhẹ huyết áp ở những phụ nữ sử dụng HRT cũng đã được báo cáo. Thường hiếm khi có biểu hiện trên lâm sàng. Tuy nhiên, nếu trong một so trường hợp các dấu hiệu tăng huyết áp trên lâm sàng kéo dài liên tục trong thời gian sử dụng HRT, có thể phải ngưng sử dụng thuốc.

Các trường hợp có rối loạn chức năng gan không trầm trọng, bao gồm cả tăng bilirubin trong mậu như hội chứng Dubin- Johnson hoặc hội chứng Rotor, cần phải được theo dõi chặt chẽ và kiểm tra chức năng gan định kỳ. Trong trường hợp các chỉ số về chức nằng gan tăng lền, nên ngưng sử dụng HRT.

Đối với nhưng phụ nữ cố chỉ số triglyceride tăng ở mức độ vừa phải cần đặc biệt theo dõị.

Việc sử dụng HRT đối những phụ nữ này có thể làm tăng thêm chỉ số Triglyceride, cố thể gây nên nguy cơ viêm tuỵ cấp.

Mặc dù sử dụng HRT có thể ảnh hưởng đến sự kháng lại insulin ờ ngoại vi vậ độ dung nạp Glucose, nhìn chung không cần điều chỉnh liều dùng của các thuốc điều trị tiểu đường trong thời gian sử dụng HRT. Tuy nhiên những phụ nữ mắc bệnh tiểu đường cần được theo dõi cần thận trong thời gian sử dụng HRT. Một số trường hợp nhất định có thể xuất hiện dấu hiệu kích thích hệ estrogenic trong thời gian sử dụng HRT như chảy máu tử cung bất thường. Chảy máu âm đạo bất thường thường xuyên hoặc dai dẳng trong qua trình điều trị có thể là một dấu hiệu để đánh giá tình trạng nội mạc tử cung.

Nếu việc điều trị kinh nguyệt bất thương không có hiệu quả, cần phải áp dụng các chẩn đoán thích hợp để loại trừ các bệnh của các cơ quan khác.

Kích thước của tử cung có thể tăng lên do tác dụng của Estrogen. Nếu xuất hiện dấu hiệu này, nên ngưng sử dụng HRT.

Nếu hiện tượng lạc nội mạc tử cung xuất hiện trở lại trong thời gian điều trị thì nên ngưng sử dụng HRT.

Cần theo dõi y tế chặt chẽ (bao gồm cả định kỳ kiểm tra nồng độ prolactin) ở những bệnh nhân bị tiết prolactin

Hiện tượng sạm da thường rất hiếm khi xảy ra, thường gặp ở những bệnh nhân có tiền sử sạm da trong thai kỳ. Những phụ nữ có xu hướng bị sạm da nên tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mạt trời hoặc tia cực tim trong thời gian sử dụng HRT.

Các dấu hiệu sau đây cũng đã đươc báo cáo là có thể xảy ra hoặc trở nên xấu đi khi sử dụng HRT. Tuy nhiên, nó không cho thấy có sự liên quan rõ rang đến việc sử dụng HRT, những phụ này cần dược theo dõi chặt chẽ trong thòi gian sử dụng HRT:

  • Động kinh
  • Cắc bệnh lành tính ở vú
  • Hen phế quản
  • Đau nửa đầu
  • Porphyrin niệu
  • Loang xương
  • Lupus ban đo hệ thống.
  • Mua vờn nhẹ

Ở những phụ nữ cố hiện tượng phù mạch ngoại sinh do di truyền, Estrogen có thể gây ra hoặc làm trầm họng thêm các triệu chứng phù mạch.

Thăm khám toàn thân:

Cần hỏi, rõ đầy đủ tiền sử bệnh tật của bệnh nhân và tiến hành thăm khám nội khoa trước khi bắt đầu hoặc trước khi tái sử dụng liệu pháp hormone thay thế, thực hiện theo định kỳ những hướng dẫn ở mục chống chỉ định và cảnh báo. Tần suất và tính chất thăm khám này cần phải dựa vào những kinh nghiệm thực tế và áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể tuy nhiên phải bão gồm thăm khám co tử cung, làm tế bào học cổ tử cung, khám bụng, vú và đo huyết áp.

Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác

Nên dừng các phương pháp tránh thai dùng hormone khi bắt đầu liệu pháp hormone thay thế và nên áp dụng các biện pháp tránh thai khác nếu cần thiết.

Tương tác với các thuốc khác

Điều tri dài ngày bằng các thuốc tác động lên men gan (ví dụ một số loại thuốc chống co giật hoặc kháng virus) cố thể làm tăng SỊỊ thanh thải của các hormone sinh dục và làm giảm hiệu quả lâm sàng. Các thuốc tác động đến men gan bao gồm Hydantoins, Barbiturates, Primodone, Carbamazepine và Rifampicin, ngoài ra còn có thể bao gồm Oxcarbazepine, Topiramate, Felbamate và Griseofulvin, Tác dụng lớn nhất của thuốc này đến các men gan chỉ được nhận thấy sau 2 đên 3 tuần và có thể kéo dài đến 4 tuần sau khi ngùng dùng các thuốc nói trên

Một vài trường hợp hiếm, nồng độ Estradiol bị giảm xuống khi sừ dụng đồng thời một số thuốc kháng sinh. (Ví dụ Penicillin hoặc Tetracycline),

Các hoạt chất phải trải qua quá trình tiếp hợp (ví dụ Paracetamol) có thể làm tăng khả dụng sinh học của Estradiol bằng khả năng ức chế cạnh tranh của hệ thống tiếp hợp trong quá trình hấp thu.

Đối với một số trường hợp cụ thể, nhu cầu về thuốc uống chống đái đường hoặc Insulin có thể thay đổi do các ảnh hưởng củà sự đáp ứng dung nạp Glucose.

Tương tác với rượu

Sử dụng rươu trong quá trình điều trị liệu pháp hormone thay thế có thể dẫn đến tăng lượng Estradiol tuần hoàn.

Ảnh hưởng tới các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng:

Sử dụng các Steroid sinh dục có thể ảnh hưởng tới các chỉ số sinh hóa ví dụ chức năng gan, chức năng tuyến giáp, chức năng tuyến thượng thận và chức năng, thận, hàm lượng của các protein (chất vận chuyển) trong huyết tương như các globulin gắn kết với Corticosteroids và tỷ lệ Lipid/Lipoprotein, các chỉ sô chuyển hoá Carbonhydrate, chỉ số về đông máu và chảy máu

Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú

Không dung liệu pháp thay thế hormone cho phụ nữ có thai va cho con bú. Nếu có thai trong thời gian sử dụng Climen, nên ngừng điều trị ngay lập tức.

Nghiên cứu dịch tễ trên diện rộng về sử dụng hormone steroid cho thấy sự rủi ro không tăng lên đối với những đứa trẻ sinh ra ở những bà mẹ có sử dụng hormone trước khi có thai cũng như không có biểu hiện sinh quái  thai đối với những bà mẹ sử dụng hormone trong thời gian đầu của thai kỳ.

Một lượng nho các hormone sinh dục được bài xuất vào trong sữa mẹ.

Tác dụng trên khả năng lái xe và vận hành máy móc

Không có

Tác dụng không mong muốn

Các tác dụng ngoại ý trầm trọng cố liên quan đến việc sử dụng liệu pháp hormone thay thể cùng như các tnệu chứng khác được đề cập trong mục “Thận trọng và cảnh báo”

Các tác dụng ngoại ý khác cũng được báo cáo ở những phụ nữ sử dụng liệu pháp hormone; thay thế (các nghiên cứu hậu mài), tuy nhiên người ta chưa xác định được rằng chúng có mối liên quan đến thuốc hay không.

Cơ quanThông thường

(1/100, <1/10)

Bất thường (<1/100)Hiếm gặp

(>1/10,000, <1/1,000)

Rối loạn hệ miễn dịchPhản ứng quá mẫn
Rối loạn chuyển hoá và dinh dưỡngTăng cân hoặc giảm cân
Rối loạn tâm thầnTrạng thái trầm cảmLo lắng, tăng hoặc giảm tình dục
Rối loạn hệ thần kinhĐau đầuChóng mặtĐau nửa đầu
Rối loạn thị lựcRối loạn thị lựcKhông dung nạp với kính áp tròng
Rối loạn tim mạchTim đập nhanh
Rối loạn hệ tiêu hoáĐau bụng, buồn nônĐi ngoàiChướng bụng, nôn
Rối loạn da và tổ chức dưới daPhát ban, mẩn ngứaChứng ban đỏ sẩn cục, mày đayChứng rậm lông, trứng cá
Rối loạn cơ và khớpChuột rút

Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

Quá liều và cách xử lý

Các nghiên cứu về độc tính cấp diễn không cho thấy nguy cơ gây nên các tác dụng ngoại ý cấp tính khi sử dụng quá liều điều trị thông thường hàng ngày.

Đặc điểm dược lực học

Climen có chứa hormon estrogen Estradiol valerate, một tiền chất của hormon tự nhiên trong cơ thể con người 176-estradiol. Thành phần cấu tạo của Cyproterone acetate là một dẫn xuất hydroxyprogesterone tổng hợp với Progestogen, có tính kháng kích dục và đặc tính kháng kích tố nam.

Với thành phần và cơ chế tác động của Climen, bao gồm pha Estrogen đơn thuần sử dụng trong 11 ngày và pha tổng hợp Estrogen-Progestogen sử dụng trong 10 ngày tiếp theo là 7 ngày ngưng dùng thuốc, chu kỳ kinh nguyệt sẽ được thiết lập với những phụ nữ còn nguyên dạ con trong trường hợp thuốc được sử dụng thường xuyên.

Sự rụng trứng không bị ức chế trong thời gian sử dụng Climen và quá trình sản xuất các hormon nội sinh. Do tác dụng của các thành phần có trong thuốc, thuốc có thể sử dụng cho phụ nữ trẻ tuổi để điều chỉnh chu kì kinh nguyệt cũng như với những phụ nữ xung quanh thời kỳ mãn kinh để điều trị chứng chảy máu tử cung bất thường.

Trong thời kỳ mãn kinh, sự thiếu hụt của hormon do buồng trứng sản sinh ra có thể gây ra các triệu chứng khó chịu như đỏ bùng mặt kèm theo mất ngủ và chảy mồ hôi. Những dấu hiệu thoái triển của da và niêm mạc (đặc biệt ở vùng niệu sinh dục) có thể bị ảnh hưởng hoàn toàn, Không cụ thể nhưng thường được nhắc đến là những triệu chứng hay gặp ở thời kỳ mãn kinh đó là chứng đau thắt ngực, tim đập nhanh, khó chịu, bồn chồn, thiếu năng lượng và khả năng tập trung, hay quên, suy giảm tình dục, đau cơ và khớp. Liệu pháp hormon thay thể (HRT) giúp ngăn chặn nhưng khó chịu đối với phụ nữ trong thời kỳ màn kinh gây ra do sự thiếu hụt Estradiol.

Sử dụng liệu pháp hormon thay thế với Climen làm giảm chứng loãng xương và làm cho chậm lại hoặc ngưng hiên tượng mất chất xương thời kỳ sau mãn kinh.

Điều trị lâu dài bằng liều pháp hormon thay thế cho thấy nguy cơ gãy xương ở những phụ nữ sau mãn kinh giảm xuống. Nếu ngưng sử dụng liệu pháp này, khối lượng xương sẽ giảm tới tỉ lệ tương đương với khối lương xương ngay sau mãn kinh.Không có bằng chứng nào cho thấy liệu pháp hormon thay thế duy trì khối lượng xương tương đương với tỉ lrrj trong thời kỳ tiền mãn kinh. Liệu pháp hormon thay thế cũng có những ảnh hưởng tích cực đối với thành phần cấu tạo da và độ dày của da đồng thời làm chậm quá trình nhăn da. Hơn nữa, hoạt tính kháng kích tố nam của Cyproterone acetate có thể hỗ trợ cho những ảnh hưởng có lợi của Climen đối với những rối loạn có liên quan đến androgen (ví dụ: mụn, sự tiết bã nhờn, rụng tóc do cường androgen).

Liệu pháp hormon thay thế với Climen làm thay đổi tỉ lệ Lipit, làm cho lượng Cholesterone toàn phần và LDL-cholesterone thấp đi; tỉ lệ HDL-cholesterone và Triglyceride tăng lên. Do sự thiếu hụt của các đặc tính androgenic, không có hoặc chỉ có một vài các ảnh hưởng qua lại của Cyproteroíie acetate lên tác dụng chuyển hoá của Estrogen trong Climen. Những ảnh hưởng của Climen được phát hiện chủ yếu ở những phụ nữ mắc chứng xơ vữa động mạch do Lipoprotein.

Bên cạnh đó, hình thức thay thế Progestogen bằng một Estrogen trong thời gian ít nhất 10 ngày của mỗi chu kỳ sẽ làm giảm nguy cơ tăng sinh niêm mạc tử cung và nguy cơ tổn tại ; chứng ung thư tế bào tuyến ở những phụ nữ có tử cung còn nguyên vẹn. Hình thức thay thế Progestogen bằng một Estrogen này không làm ảnh hưởng đến hiệu quả của thành phần Estrogen được nêu ra trong chỉ định.

Các nghiên cứu quan sát và thử nghiêm về quyền lợi Sức khoẻ Phụ nữ (WHI) đã được tiến hành vơi sự kết hợp giữa Equine Estrogen tiếp hợp (CEE) và Medroxyprogestogen acetate (MPA) cho thấy nguy cơ ung thư ruột kết ở những phụ nữ sau màn kinh đã giảm đi đối với những người sử dụng liệu pháp hormon thay thế. Trong thử nghiệm của WHI trên một liệu pháp CEE đơn thuần không cho thấy sự suy giảm nguy cơ này. Người ta chưa biết liệu điều này có đúng với các thuốc sử dụng trong liệu pháp hormone thay thế khác hay không!

Đặc điểm dược động học Estradiol valerate

Hấp thu

Estradiol và Acid Valeric trong quá trình hấp thu và giai đoạn đầu tiên tại gan. Một lượng lớn Estradiol trải qua quá trình chuyển hoá sau đó trong cùng thời gian này, ví dụ thành Estrone, Estripl và Estrone sulfate. Chỉ có khoảng 3% Estradiol trở thành dạng có hoạt tính sinh khả dụng sau khi uống. Thức ăn không làm anh hưởng tới tính sinh khả dụng của Estradiol.

Phân bố:

Nồng độ tối đa của Estradiol trong huyết tương là 30 pg/mL, đạt được trong vòng 4-9h sau khi uống. 24h sau khi uống, nồng độ của Estradiol giảm xuống còn 15 pg/mL.

Estradiol gắn kết với Albumin và globulin gắn kết hormone giới tính (SHBG). Phần Estradiol không gắn kết với protein trong huyết tương vào khoảng 1 -1.5% và phần Estradiol gắn kết với SHBG vào khoảng 30-40%.

Thể tích phân bố của Estradiol sau khi tiêm tĩnh mạch một liều đơn là vào khoảng 1 L/kg.

Chuyển hoá:

Sau khi Estradiol valerate ngoại sinh được tách ester, thuốc được chuyển hoá thông qua con đường biến đổi sinh học cua Estradiol nổi sinh. Estradiol được chuyến hoá chính ở gạn, tuy nhiên nó cũng được chuyển hóa ở các cơ quan khác ngoài gan như ruột, thận, hệ xương cơ và các cơ quan mục tiêu khác. Nhưng quá trình này tham gia vào việc hình thành Estrone, Estriol, Catecholestrogen và Sulfate và các liên kết glucuronide của các thành phần ít được chuyển hoá của Estrogenic hay Nonestrogenic.

Đào thải:

Tổng lượng thanh thải trong huyết thanh của Estradiol sau khi dùng một liều đơn theo đường tính mạch, rất khác nhau trong khoảng từ 10 đến 30mL/phút/kg. Một lượng nhất định chất chuyển hoá của Estradiol được bài xuất vào trong dịch mật và tham gia vào vòng tuần hoàn gan- ruột. Sự chuyển hóa của Estradiol ở giai đoạn cuối chủ yếu được bài tiết thanh dạng Sulphat và Glucuronides trong nước tiểu.

Tính bền vững:

So với khi dùng một liều đơn duy nhất, nồng độ của Estradiol trong huyết tương cao hơn xấp xỉ 2 lần khi dùng nhiều liều liên tiếp. Trang bỉnh, nồng độ của Estradiol thay đổi trong khoảng 30 (mức tối thiểu) và 60 pg/mL (mức tối da). Estrone, một chất chuyển hoá ít của Estradiol đạt được nồng độ trong huyết thanh cao gấp 8 lần, Estrone sulfate đạt tới nồng độ trong huyết thanh cao hơn 150 lần. Sau khi ngừng điều trị Climen, nồng độ của Estradiol và Estrone trở về như trước khi điều trị trong vòng 2-3 ngày.

Cyproterone acetate

Hấp thu:

Norgestrel được hấp thu nhanh chóng và hoàn toàn sau khi uống. Hoạt tính sinh khả dụng của Cỵprotẹrone acetate sau khi uống đạt được khoảng 88% của liều dùng.

Phần bố:

Nồng độ tối đa của Cyproterone acetate trong huyết thanh là vào khoảng 8ng/mL và đạt được trong vòng 1- 2h sau khi dùng một liều duy nhất  1 mg Cyproterone acetate. Sau đó nồng độ của Cyproterone acetate sẽ giảm xuống qua 2 giai đoạn với thời gian bán huỷ trung bình trong vòng 0,8 h và 2-3 ngày.

Cyproterone acetate gắn kết với albumin trong huyết tương. Chỉ khoảng 3,5 – 4% tổng lượng Cyproterone acetate trong huyết tương không gắn với protein. Sự gắn kết của Cyproterone acetate với Protein trong huyết thanh phần lớn không xác định được cụ thể vì chỉ một lượng nhỏ gắn kết với với protein không bền như SHBG va CBG, cho thấy rằng sự thay đổi của SHBG không làm ảnh hưởng tới các đặc tính dược động học của Cyproterone acetate.

Chuyển hoá sinh hoc:

Cyprotẹrone acetate được chuyển hoá theo nhiều cách, trong đó có giai đoạn khử hydro và giai đoạn tiếp hợp. Chất chuyển hoá chính trong huyết tương của người là dẫn xuất 5 -beta- hydroxy.

Đảo thải

Tổng lượng thanh thai của Cyprọterone acetate trong huyết thanh là 3,6ml/phút/kg. Một phần là 1,9 ngày. Các chất chuyển hoá trong huyết tương được đào thải với thời gian bán huỷ tương tự là 1,7 ngày.

Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng

Estradiol valerate

Các dữ liệu về độc tính của estradiol valerate hiện đã rõ ràng. Không có thêm dữ liệu nào có liên quan đến việc sử dụng thuốc ngoài các thông tin đã được nói đến trong các phần khác.

Các nghiên cứu thường quy trên người sử dụng liều độc nhắc lại cho thấy c yprọterone acetate không có nguy cơ gây độc tính toàn thân.

Nguy cơ nhiễm độc gen, ung thư Nghiên cứu trên thế hệ đầu tiên đã cho thấy không có nguy cơ nhiễm độc gen khi sử dụng cyproterone acetate. Tuy nhiên, những nghiên cứu sâu hơn cho thấy cyproterone acetate có thể như trên tế bào gan người khoẻ mạnh. Trên tế bào gan chó, mức độ gây xoắn DNA của cyproterone acetate ở mức cực kỳ thấp.

Sự hình thành xoắn DNA xuất hiện khi có tiếp xúc toàn thân và nghi ngờ có thể xuất hiện khi sử dụng cyproterone acetate ở liều khuyến cáo. Trên invivo, hậu quả của việc điều trị cyproterone acetate có thể làm tăng nguy cơ gây nên những thương tổn, có thể là xuất hiện các khối u, tổn thương ở gan, và tại đó các enzyme tế bào cũng bị thay đổi đối với chuột cái, và nguy cơ gặp phải hiện tượng biến dị đối với những con chuột biến đổi gen có mang những gen của vi khuẩn mục tiếu đối với hiện tượng biến dị.

Cho đến nay các thử nghiệm lâm sàng và dịch tễ học cho thấy sử dụng Cyproterone acetate không làm tăng tỷ lệ mắc khối u gan ở người. Những nghiên cứu về nguy cơ gây ung thư của cyproterone acetate trên loài gặm nhấm cũng không phát hiện ra nguy cơ ung thư có thể xảy ra.

Tuy nhiên, cần ghi nhớ răng các hormone steroid sinh dục có thể thúc đẩy quá trình phát triển, của các khối u và các mô phụ thuộc hormon.

Độc tính trên bào thai / nguy cơ gây dị tật trên bào thai

Sử dụng liều caouyproterone acetate trong thời kỳ nhạy cảm hormon biệt hóa các cơ quan sinh dục thì đã dẫn tới dấu hiệu nữ tính hoá ở bào thai nam. Quan sát những trẻ sơ sinh nam đã từng được tiếp xúc với cyproterone acetate từ thời kỳ bào thai không cho thấy dấu hiệu nữ tính hóa. Tuy nhiên chống chỉ định Climen đối với phụ nữ có thai.  Tóm lại, những kết quả hiện có cho thấy không có nguy cơ nhiễm độc gen và ung thư trên người khi sử dụng Climen theo đúng chỉ dẫn, đúng chỉ định và đúng liều khuyến cáo.

Sản xuất bởi:

DELPHARM LILLE SAS

Hạn dùng

36 tháng kể từ ngày sản xuất

Điều kiện bảo quản

Bảo quản thuốc ở nhiệt  dưới 30°C

Quy cách đóng gói

Vỉ 21 viên nén bao có ghi lịch uống. Hộp 01 vỉ.

Hướng dẫn sử dụng/tiêu huỷ

Không

Để xa tầm tay trẻ em

Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Climen”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *