Enter your keyword

Những khác biệt về Dược động học của trẻ em và người lớn
5 (100%) 1 vote

Những biến đổi dược động học xẩy ra chủ yếu với trẻ sơ sinh và trẻ dưới 1 tuổi, ở lứa tuổi này, nhiều cơ quan trong cơ thể chưa hoàn chỉnh vế mặt chức năng, do đó quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa và bài xuất thuốc có rất nhiều điểm khác biệt với lứa tuổi trưởng thành từ 1 tuổi trờ lên, các khác biệt về dược động học so với người lớn không nhiều nên ảnh hưởng ít có ý nghĩa lâm sàng.

1. Hấp thu thuốc

Khả năng hấp thu thuốc của cơ thể được đánh giá qua sư biến đổi sinh khả dụng của thuốc, trị số này rất dao động ở trẻ nhỏ.

1.1. Đường uống

Sự khác biệt về sinh khả dụng thường chỉ gặp ở trẻ dưói 1 tuổi. Nguyên nhân có thể là:

Độ pH dạ dày cao hơn trở lớn vì lượng Cạcid hydroclorid chưa được tiết đầy đủ, hơn nữa ở lứa tuổi này, sự co bóp tống chất chưa ra khỏi dạ dày yếu, cả hai yếu tố này đều ảnh hưởng đến khả năng hấp thu những thuốc có bản chất ạcid yếu như phẹnobarbital, aspirin… hoặc base yếụ như theophylin, cloroquin…

Nhu động ruột của trẻ nhỏ mạnh hơn trẻ lớn nên tốc độ di chuyển thuốc trong ống tiêu hóa làm giảm thời gian lưu của thuốc tại ruột, chính vì vậy, khả năng hấp thu triệt đc các thuốc có tác dụng kéo dài bị ảnh hưởng.

Ví dụ: Theodur (một dạng theophylin giải phóng kéo dài) có sinh khả dụng chỉ khoáng 50% ở trẻ dưới 1 tuổi trong khi trị số này khoảng 80% ở trẻ lớn và người lớn.

  • Hệ enzym phân hủy thuốc ở trẻ dưới ở tháng chưa hoàn chỉnh, do đó một sô thuốc ở dạng ester như cloramphenicol palniitat không tách được gốc ester đế giải phóng thuốc ở dạng tự do, làm cản trở hấp thu hoạt chất.

1.2. Đường tiêm

Hệ cơ bắp trẻ em còn nhỏ, lại chưa được tưới máu đầy đủ, do đó nên han chế tiêm bắp vì khó biết được chính xác sinh khả dụng để có được một liều thuốc chính xác Vì vậy, đường đưa thuốc đươc khuyến khích cho lứa tuổi này là tiêm tĩnh mạch.

1.3. Đường qua da

Ngoài các đường đưa thuốc thông dụng vừa nêu ở phần trên, đường đưa thuốc qua da cũng cần đặc biệt được lưu ý vì da trẻ em mỏng nên khả năng thấm thuốc mạnh hơn so với người lớn.

Các loại thuốc hấp thu nhiều qua da như corticoid phải thận trọng khi bôi vì tác dụng có thể tương đương như khi dùng qua đường toàn thân.

Không được xoa các loại tinh dầu như mentol, long não… vào mũi hoặc lên da vì có thể gây tác dụng kích thích mạnh lên ngọn sợi thần kinh cảm thụ dẫn đến ngạt do liệt hô hấp.

Tóm lại, việc tính liều, chọn dạng bào chế, đường đưa thuốc…nên thận trọng cho đối tượng này. Liều lượng cho trẻ dưới 1 năm, đặc biệt là trẻ sơ sinh không nên tính theo những công thức suy từ cân nặng của người lớn mà nên dùng các bảng liêu lượng dành riêng cho nhi khoa..

2. Phân bố thuốc

Mức độ phân bố thuốc trong cơ thể biểu thị qua chỉ số thể tích phân bố (Vd). Chỉ số Vd phụ thuộc nhiều vào khả năng liên kết của thuốc với protein – huyết tương; thế nhưng lượng albumin và globulin ở lứa tuổi này kém cả về chất và về lượng so với trẻ lớn, do đó tỷ lệ thuốc liên kết thấp. Hậu quả ià nồng độ thuốc ở dạng tự do trong máu tăng lên dẫn đến tăng tác dụng và độc tính.

Ví dụ: Phenytoin có tỷ lệ liên kết protein là 95% ở người lớn trong khi ở trẻ sơ sinh chỉ là 70- 85%.

Dạng thuốc không liên kết dễ đi qua hàng rào sinh học, phân tán đến các mô và do đó Vd ở trẻ nhỏ lớn hơn ở người lớn.

Tuy nhiên, không phải Vd tăng trong mọi trường hợp. Những thuốc có hệ số lipid/ nước lớn có Vd ít khác biệt so với người lớn trong khi loại thuốc tan nhiều trong nước có sự khác biệt rõ rệt.

Bảng . So sánh thể tích phân bố của một số thuốc ở trẻ em và người lớn

Thuốc Thể tích phân bố (ỉ/kg)
Trẻ sơ sính đủ tháng Người lởn
Phenobarbital 0,6-1,5 0,6- 1,5
Diazepam 1,8-2,1 1,6-3,2
Digoxin 6,0- 10,2 5,7 – 7,3
Gentamicin 0,8-0,16 0,3-0,7
Ampicilin 0,5 0,2

3. Chuyển hóa thuốc tại gan

Các thuốc vào cơ thể bị chuyển hóa qua gan thường trải qua 2 pha:

  • Pha I: Bao gồm các phản ứng oxy hóa – khử, thủy phân… các phản ứng này ở trẻ sơ sinh (nhất là trẻ đẻ non) và trẻ dưới 1 tuổi xẩy ra rất yếu vì hệ enzym chuyển hỏa thuốc chưa đầy đủ cả về chức năng và số lượng. Các hệ enzym được hoàn thiện với những tốc độ khác nhau nhưng phải đến ngày thứ 5 sau khi sinh (với trẻ đủ tháng) đứa trẻ mới có một hệ enzym đầy đủ để chuyển hóa các chất nội sinh (thí dụ: bilirubin). Đối với các chất lạ như thuốc, khả năng chuyển hóa ở những giai đoạn đầu tiên của cuộc đời (giai đoạn sơ sinh) còn rất hạn chế.

Ví dụ:

Hoạt tính của các enzym mono-oxygenase dao động tùy theo cơ chất và ở trẻ nhỏ hoạt tính của enzym này chỉ bằng 2 đến 40% so với của người lớn.

  • Pha II: Bao gồm các phản ứng liên hợp với acid acetic, sulfuric, glucuronic hoặc glycocol để tạo thành các chất có tính phân cực mạnh, dễ thải qua mật hoặc nước tiểu.

Sự hoàn thiện của từng hệ enzym cũng tùy thuộc vào lứa tuổi.

Các enzym glucoronosyltransferase chịu trách nhiệm liên hợp với morphin, cloramphenicol hoặc bilirubin chỉ đạt đến mức độ hoàn thiện như ở người lớn khi trẻ từ 3 tuổi trở lẽn.

Vì những lý do trên, tốc độ chuyển hóa thuốc ở trẻ dưới 1 năm, đặc biệt là trẻ sơ sinh yếu hơn hẳn so với người lớn dẫn tới thời gian bán thải (tI/2) kéo dài hơn.

Tuy nhiên, sự hoàn thiện các hệ enzym theo lứa tuổi dao động rất mạnh và chưa có những nghiên cứu đầy đủ với các quy luật này.

Với trẻ trên 1 tháng tuổi, hệ enzym chuyển hóa thuốc ở pha I hoàn thiện khá nhanh. Nói chung, tốc độ khử hoạt thuốc ớ tre em từ 1 đến 8 tuổi mạnh hơn ờ người lớn và do đó liều tính theo cân nặng ở lứa tuổi này cao hơn liều tính cho người lớn theo cân nặng. Ví dụ về thời gian bán thải của diazepam:

Bảng . So sánh thời gian bán thải của một số thuốc ở trẻ sơ sinh và người lớn

Thuốc t-1/2 (h)
Trẻ sơ sinh dủ tháng Người lớn
Amoxicilin – 4 – 1
Amikacin -6 -2
Digoxin -80 – 35
Acid nalidixic -6 -2
Phenobarbital -200 60- 120
Phenytoin 30-60 20-40
Các saíicylat -10 -5

 

 

4. Bài xuất thuốc qua thận

Con đường chính bài xuất thuốc ra khỏi cơ thể là thận. Chức năng thận ở trẻ sơ sinh yếu hơn người lớn rõ rệt.

Ví dụ: Lúc mới sinh, tốc độ lọc của cầu thận và bài tiết qua ống thận chỉ bàng 33% so với người lớn; do đó, liều lượng của những thuốc bài xuất qua thận dưới dạng còn hoạt tính phải hiệu chỉnh lại. Tuy nhiên, chức năng thận hoàn chỉnh khá nhanh và tới 1 tháng tuổi thì đạt tới 50% so với người lớn.

Khả năng bài xuất thuốc qua thận được đánh giá qua độ thanh thải creatinin (clearance- Cl). Sự thay đổi độ thanh thải liên quan mật thiết đến thời gian bản thái (t1/2) (bảng)

Bảng 9.4. Sự liên quan giữa độ thanh thải và thời gian bán thải ở một số nhóm tuổi khi sử dụng Azlocilin (tĩnh mạch )

. —————————-

Nhóm tuổi

Liều

( mg/kg )

Cl

( ml/ph)

L/2

(h)

Sơ sinh thiếu tháng 50 1,7 4,2
Sơ sinh đủ tháng 100 4,7 2,7
Trẻ dưới 3 tháng 100 8,1 19
Trẻ trên 3 tháng 100 22,5 1,0
Trẻ trên 5 tuổi 75 88,9 0,9

 

Từ bảng 9.4 ta thấy: do khả năng bài xuất thuốc qua thận ở trẻ em yếu nên thời gian tồn tại của thuốc trong cơ thể kéo dài hơn thể hiện qua sự tăng C1 và t1/2. Điều này cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng những thuốc có phạm vi điều trị hẹp vì dễ có nguy cơ quá liều. Cần nới rộng khoảng cách đưa thuốc để thận kịp đào thải thuốc ra khỏi cơ thể, tránh hiện tượng tích lũy.

Từ 9 đến 12 tháng tuổi trở lên, chức năng thận ở trẻ em hoạt động như ở người lớn. vì vậy không cần hiệu chỉnh liều cho lứa tuổi này nữa.

copy ghi nguồn: https://nhathuocngocanh.com/

link bài viết: https://nhathuocngocanh.com/nhung-khac-biet-…-em-va-nguoi-lon/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *