Enter your keyword

Ảnh hưởng của chế độ ăn của mẹ đến chất lượng sữa
5 (100%) 1 vote

Quá trình tiết sữa đòi hỏi phải bổ sung năng lượng và dinh dưỡng từ chế độ ăn. Chất lượng sữa mẹ thường đáp ứng được sự phát triển của trẻ, ngay cả khi chế độ ăn của bà mẹ có năng lượng và dinh dưỡng bị hạn chế. Tuy nhiên, một chế độ ăn thiếu dinh dưỡng kéo dài có thể làm suy giảm dự trữ dinh dưỡng của mẹ và tác động xấu đến thành phần của sữa.

Hàm lượng protein

Chế độ ăn của mẹ thường không ảnh hưởng đến số lượng hoặc chất lượng protein của sữa, ngay cả trong quần thể suy dinh dưỡng.

chế độ ăn của bà bầu

Hàm lượng chất béo

Tỷ lệ chất béo trong chế độ ăn của mẹ có ảnh hưởng nhỏ đến số lượng acid béo trong sữa mẹ; tuy nhiên, loại chất béo mà người mẹ tiêu thụ có ảnh hưởng đến thành phần acid béo trong sữa. Ví dụ, mẹ tiêu thụ các acid béo omega-3 chuỗi dài không no (n-3 LCPUFA), bao gồm acid docosahexaenoic) (DHA), sẽ ảnh hưởng đến nồng độ các acid béo này trong sữa mẹ. Sự liên quan của n-3 PUFA đến sự phát triển não của trẻ đã được đưa ra, nhưng chưa được xác nhận bởi hầu hầu hết các nghiên cứu lâm sàng.

chất béo cho bà bầu

Các sự thay đổi khác về hàm lượng acid béo của sữa mẹ có thể ít mối lien quan lâm sàng. Ví dụ, những bà mẹ có chế độ ăn ít béo sản xuất ra sữa mẹ với phần acid béo chuỗi vừa cao hơn 1 chút so với bà mẹ có chế độ ăn nhiều chất béo.

Tiêu thụ chất béo và dầu đã hydro hóa 1 phần cũng ảnh hưởng đến thành phần acid béo trong sữa. Ví dụ, nồng độ acid linoleic cao hơn trong sữa của những bà mẹ ăn chay so với nhóm chứng không ăn chay. Tuy nhiên, chế độ ăn không ảnh hưởng đến hàm lượng cholesterol và phospholipid trong sữa mẹ.

Các vitamin tan trong dầu

Nồng độ các vitamin tan trong dầu ở sữa bị giảm ở các bà mẹ thiếu vitamin và tăng sau khi được bổ sung.

vitamin tan trong dầu

– Hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ là rất thấp, và thậm chí còn thấp hơn ở những bà mẹ có da tối màu hoặc những nguyên nhân khác dẫn đến thiếu vitamin D ở mẹ. Vì vậy, tất cả trẻ nhũ nhi cần được bổ sung vitamin D để ngăn ngừa còi xương, và điều này đặc biệt quan trọng đối với những bè mẹ thiếu vitamin D. Một cách khác nhưng hiếm khi được sử dụng là dùng vitamin D liều cao vừa phải ở những bà mẹ cho con bú (4000-6400 UI/ngày, gấp khoảng 10 lần liều khuyến cáo), sẽ làm tăng hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ đến mức đáp ứng được nhu cầu của trẻ. Tuy nhiên, liều cao hơn của vitamin D thì không nên dùng; trong 1 báo cáo, ergocalciferol 2500 mcg (100000 UI/ngày, tức là gấp >150 lần liều khuyến cáo) dẫn đến nồng độ ngộ độc trong sữa.

– Nồng độ vitamin K trong sữa mẹ khác nhau giữa các mẹ có chế độ ăn khác nhau nhưng nhìn chung là thấp. Vì vậy, trẻ nhũ nhi có nguy cơ chảy máu do thiếu vitamin K, có thể được phòng ngừa bằng cách tiêm vitamin K thường quy ngay sau sinh.

– Hàm lượng vitamin A trong sữa mẹ cũng thay đổi theo chế độ ăn của người mẹ. Thiếu vitamin A có biểu hiện lâm sàng hiếm gặp ở trẻ nhũ nhi ở các nước phát triển. Ở những nơi trên thế giới có dịch tễ thiếu vitamin A thì bổ sung vitamin A thường quy đã không còn được khuyến cáo cho bà mẹ cho con bú, trẻ sở sinh, hoặc trẻ nhũ nhi nhỏ hơn 6 tháng tuổi. Đó là vì các nghiên cứu bổ sung vitamin A cho thấy không có lợi ích sức khỏe nhất định và có thể có tác dụng phụ ở trẻ nhỏ. Bổ sung vitamin A liều cao được khuyến cáo ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ từ 6-59 tháng ở những nơi mà thiếu vitamin A là vấn đề sức khỏe cộng đồng.

Các vitamin tan trong nước

Nồng độ các vitamin tan trong nước của sữa cũng phụ thuộc vào chế độ ăn của mẹ và giảm đi khi thiếu vitamin. Tuy nhiên, nồng độ vitamin tan trong nước của sữa được điều chỉnh để không vượt quá ngưỡng giới hạn trên ngay cả khi người mẹ đưa vào lượng vitamin này rất cao. Ví dụ, nồng độ vitamin C và thiamine (vitamin B1) duy trì thấp hơn 160 mg/L và 200 mcg/L.

vitamin tan trong nước

Hàm lượng vitamin trong sữa giảm khi có tình trạng thiếu vitamin và hồi phục khi được bổ sung. Ví dụ, ở những phụ nữ thiếu thiamine (beriberi), thì hàm lượng thiamine trong sữa của họ thấp. Nồng độ vitamin B6 (pyridoxine) trong sữa cũng đáp ứng nhanh chóng với sự thay đổi của chế độ ăn của mẹ.

Folate được ưu tiên tiết vào sữa khi mà hàm lượng trong mẹ hạn chế. Tuy nhiên, nồng độ trong sữa bị giảm khi thiếu folate nặng và tăng sau khi bổ sung folate.
Hàm lượng vitamin B12 trong sữa cũng giảm khi thiếu thường xảy ra ở người ăn chay, bà mẹ suy dinh dưỡng, bà mẹ có thiếu máu ác tính tiềm ẩn, và những người đã trải qua phẫu thuật cắt dạ dày. Đã có những báo cáo ca bệnh về sự chậm phát triển không hồi phục của những trẻ bú mẹ hoàn toàn có mẹ thiếu B12.

Hàm lượng chất khoáng

Nồng độ của hầu hết các chất vô cơ trong sữa mẹ không phụ thuộc vào chế độ ăn của bà mẹ hoặc nồng độ tỏng huyết thanh. Nồng độ canxi, phospho, và magie trong sữa không phụ thuộc vào nồng độ trong huyết thanh của mẹ và không chịu ảnh hưởng đáng kể bởi sự khác biệt trong chế độ ăn. Sắt, đồng và kẽm trong sữa mẹ cũng không phụ thuộc vào tình trạng dinh dưỡng của mẹ.

Tuy nhiên, nồng độ selen trong sữa có tương quan với nồng độ trong huyết thanh bà mẹ, chịu ảnh hưởng của chế độ ăn. Nồng độ iod trong sữa mẹ cũng phụ thuộc vào chế độ ăn.

Xem thêm phần 1 về sữa mẹ:

Dinh dưỡng cho bà mẹ trong thời gian cho con bú

Phần 3 sẽ nói kỹ hơn về nhu cầu dinh dưỡng của những bà mẹ cho con bú.

Copy ghi nguồn NhathuocNgocAnh.com

Link bài viết: Ảnh hưởng của chế độ ăn của mẹ đến chất lượng sữa

Tác giả: Bác sĩ chuyên khoa nhi Trần Linh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *