Ám ảnh sợ xã hội: Khái niệm, bệnh sinh, triệu chứng và điều trị

Ám ảnh sợ xã hội

Tác giả: TS. Tô Thanh Phương

Bài viết Ám ảnh sợ xã hội: Khái niệm, bệnh sinh, triệu chứng và điều trị được trích trong sách Rối loạn lo âu của Nhà xuất bản Y học.

1.  Khái niệm

Rối loạn ám ảnh sợ xã hội (còn gọi là rối loạn lo âu xã hội) là sợ liên quan đến các tình huống xã hội, trong đó, bệnh nhân bị người khác giám sát hoặc bệnh nhân phải tiếp xúc với người lạ.

Bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội sẽ có cảm giác sợ các hoạt động mà họ phải đối mặt với các người khác. Bệnh nhân gặp phải tình trạng ám ảnh sợ xã hội thường có xu hướng né tránh các tình huống mà trong đó họ phải va chạm với những người khác hoặc phải đối diện với những người khác.

Các ám ảnh sợ xã hội chủ yếu là: sợ nói, sợ ăn, sợ viết… ở nơi công cộng; sợ sử dụng nhà vệ sinh công cộng, họ sợ những hội đồng và những cuộc phỏng vấn. Một nỗi sọ phổ biến nhất ở bệnh nhân rối loạn ám ảnh xã hội là sợ người khác tẩy chay hoặc chế nhạo.

Mỗi bệnh nhân có thể có một hoặc nhiều tình huống sợ xã hội. Chúng được chia thành 1 trong 3 loại chính, bao gồm: sợ nơi công cộng, sợ một số tình huống xã hội nhất định và sợ toàn bộ các tình huống xã hội.

2. Dịch tễ học

Ám ảnh sợ xã hội là bệnh rất phổ biến, có thể tới 13,3% dân số trong suốt cuộc đời và 7,9% dân số trong 1 năm bị bệnh này. Khoảng 1/3 số bệnh nhân không có con sợ hãi kịch phát ở nơi công cộng, 1/3 có ít nhất 1 lần có cơn sợ hãi kịch phát trong tình huống xã hội và 1/3 còn lại có nhiều lần sợ hãi kịch phát trong tình huống xã hội, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn cho ám ảnh sợ xã hội.

Ám ảnh sợ xã hội có đủ tiêu chuẩn bền vững, hơn, gây tổn thương cho bệnh nhân nhiều hơn so với bệnh nhân chỉ co sợ một loại tình huống xã hội nhất định. Hai loại bệnh nhân này không có sự khác biệt về tuổi khởi phát, tiền sử gia đình.

Có đến 70% số bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội là nữ, tuổi khởi phát trung bình là 15. Họ thường phụ thuộc người khác về tài chính, có thể có ý định tự sát. Tỷ lệ ám ảnh sợ xã hội ở người sinh đôi là 16% (nếu 1 trong 2 người bị bệnh).

Ám ảnh sợ xã hội hay phối hợp với trầm cảm và nghiện rượu. Ám ảnh sợ xã hội có trầm cảm đi kèm thì gây tăng nguy cơ nghiện rượu và tự sát. Người ám ảnh sợ xã hội có nguy cơ bị rối/loạn khí sắc, trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực cao gấp 3 – 6 lần người bình thường. Trong hầu hết các trường hợp ám ảnh sợ xã hội làm trầm cảm nặng thêm, mạn tính hơn.

Bố mẹ bị ám ảnh sợ xã hội làm tăng nguy cơ gây bệnh ở con cái trong độ tuổi vị thành niên. Các yếu tố nguy cơ khác gây ra ám ảnh sợ xã hội là thiếu mối quan hệ chặt chẽ với người lớn, mâu thuẫn gia đình, bố mẹ có tiền sử loạn thần, sống xa gia đình, học hành kém cỏi. Ám ảnh sợ xã hội có thể phối hợp với rối loạn nhân cách, đặc biệt là rối loạn nhân cách thể xa lánh.

Bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội có rất nhiều thiệt thòi. Họ không được thỏa mãn trong nhiều khía cạnh của cuộc sống, chất lượng cuộc sống của họ rất thấp. Hơn nữa, khi có trầm cảm phối hợp thì các tổn thất của họ còn nghiêm trọng hơn. Ngay ở tuổi thiếu niên, họ đã có nhiều rối loạn chức năng xã hội nghiêm trọng.

3. Bệnh sinh

3.1. Chất dẫn truyền thần kinh

Nghiên cứu chất dẫn truyền thần kinh trong ám ảnh sợ xã hội chưa nhiều như trong rối loạn hoảng sợ, nhưng người ta đã nghiên cứu vai trò của các hệ dẫn truyền thần kinh như noradrenergic, GAB Anergic, dopaminergic vàserotoninergic. Bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội có biểu hiện giảm tiết hormon phát triển, rối loạn chức năng noradrenergic giống như trong bệnh hoảng sợ.

Bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội có sự thay đổi đáp ứng tự động rõ ràng so với người bình thường. Vai trò của các thụ cảm thể GABA benzodiazepin không rõ ràng, các chất ức chế benzodiazepin không làm tăng lo âu trong ám ảnh sợ xã hội so với nhóm chứng, nhưng người ta nhận thấy có giảm mật độ các thụ cảm thể benzodiazepin ngoại biên ở bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội toàn thể so với người bình thường.

Các thuốc ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin giúp điều trị ám ảnh sợ xã hội có kết quả, nhưng người ta còn ít hiểu biết về vai trò của serotonin trong bệnh này. Nhiều tác giả tìm thấy có sự tăng cortisol, có các đáp ứng bất thường prolactin trong ám ảnh sợ xã hội. Không có sự bất thường nào ở vùng dưới đồi, tuyến yên, tuyến thượng thận của bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội được tìm thấy qua định lượng cortisol và test dexamethasone.

Có nhiều bằng chứng cho thấy trong ám ảnh sợ xã hội có sự giảm dopamin trưng tâm, điều trị bằng thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc dopamin cho kết quả tốt, Bệnh nhân có ám ảnh sợ xã hội phối hợp với rối loạn hoảng sợ có giảm nồng độ chất chuyển hóa dopamine là vanillic acid trong dịch não tủy. Các nghiên cứu gần đây cho thấy trong bệnh ám ảnh sợ xã hội có sự suy giảm đến 20% việc vận chuyển dopamin ở các density của thể vân, cũng như giảm thấp thụ cảm thể dopamin D2.

3.2. Các nghiên cứu về hình ảnh

Nghiên cứu hình ảnh của não không thấy có sự khác biệt đáng kể nào giữa người bị ám ảnh sợ xã hội và người bình thường. Các nghiên cứu bằng SPECT cũng không thấy có sự khác biệt về dòng máu ở các vùng não. Nhưng nếu các triệu chứng lo âu xuất hiện trong khi chụp não sẽ thấy hình ảnh rối loạn chức năng của não trong ám ảnh sợ xã hội.

Nghiên cứu bằng MRI chức năng cho thấy có sự tăng hoạt động ở hạnh nhân của bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội.

Trong nghiên cứu PET sử dụng các kích thích gây lo âu ở bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội cho thấy có tăng cường máu ở cung mạch phía trước, ở thùy trước trán 2 bên vùng kiểm soát cảm xúc. Nghiên cứu SPECT ở bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội trước và sau điều trị bằng SSRI cho thấy có sự hoạt động mạnh ở thùy thái dương trái, vùng trán giữa bên trái. Người ta còn thấy hiện tượng giảm tín hiệu ở hạnh nhân và hồi hải mã ở người bình thường trong khi ở bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội lại có hiện tượng tăng hoạt động ở cả 2 vùng này.

3.3. Gien di truyền

Yếu tố gien di truyền đóng vai trò nguy cơ mạnh cho bệnh rối loạn ám ảnh sợ xã hội. Những người họ hàng mức độ 1 của bệnh nhân (bố, mẹ, con, anh, chị, em) ám ảnh sợ xã hội toàn thể có nguy cơ bị ám ảnh sợ xã hội hoặc rối loạn nhân cách xa lánh cao gấp 10 lần người bình thường.

Nghiên cứu ở người sinh đôi không xác định được vai trò gien di truyền cho ám ảnh sợ xã hội và ám ảnh sợ biệt định; ngược lại với rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn hoảng sợ, rối loạn stress sau sang chấn. Vì vậy, rối loạn ám ảnh sợ xã hội được coi là bệnh có nguyên nhân từ môi trường. Nhưng một số tác giả khác khi nghiên cứu về người sinh đôi lại đánh giá vai trò của di truyền là 30 – 40% số trường hợp, phụ thuộc vào loại ám ảnh sợ.

Vai trò của di truyền trong ám ảnh sợ xã hội bộc lộ sớm ngay ở tuổi thiếu niên. Hành vi bị ức chế không thể gây ra rối loạn ám ảnh sợ xã hội. Tuy nhiên, hành vi này thức đẩy ám ảnh sợ xã hội phát triển ở tuổi vị thành niên. Tương đương như vậy, hành vi ức chế trong; cả xa lánh xã hội và sợ hãi ở năm đầu trung học là dấu hiệu báo hiệu ám ảnh sợ xã hội khởi phát 4 năm sau đó.

Người ta không tìm thấy vai trò của phân tử gien di truyền trong ám ảnh sợ xã hội. Người ta cũng không tìm thấy các đường truyền của 5 – HT hoặc thụ cảm thể 5 – HT2a trong rối loạn sợ xã hội toàn thể.

4. Triệu chứng

Ám ảnh sợ Xã hội được mô tả chung là sợ hầu hết các tình huống xã hội. Bệnh này nhìn chung nghiêm trọng hơn, gây ra nhiều tổn thương hơn và khi đó chẩn đoán dễ dàng. So với ám ảnh sợ xã hội không toàn bộ, ám ảnh sợ xã hội toàn bộ có tuổi khởi phát sớm hơn. Bệnh nhân thường là những người độc thân và có nhiều phản ứng sợ hơn, họ có nhiều bệnh phối hợp như trầm cảm và nghiện rượu. Cũng như ám ảnh sợ biệt định, lo âu trong ám ảnh sợ xã hội là những kích thích khi họ bắt buộc ở trong tình huống ám ảnh sợ.

Các bác sĩ nhận ra rằng lo lắng xã hội là phổ biến trong nhân dân. Khoảng một phần ba số người tự nhận là nhiều lo lắng hơn so với những người khác trong các tình huống xã hội.

Bệnh nhân sẽ có lo âu mạnh mẽ, biểu hiện bằng nhiều triệu chứng cơ thể khác nhau. Ví dụ: đánh trống ngực và đau ngực, hoặc cảm thấy áp lực chủ yếu gặp ở hoảng sợ kịch phát: trong khi đỏ mặt, ra mồ hôi, khô miệng gặp ở ám ảnh sợ xã hội.

Cơn hoảng sợ kịch phát có thể xảy ra ở những người ám ảnh sợ xã hội khi đáp ứng với các tình huống xã hội gây sợ hãi. Đỏ mặt là triệu chứng cơ thể phổ biến đặc trưng cho ám ảnh sợ xã hội, họ thường tập trung chú ý vào bản thân, đánh giá xấu về hình thức của mình, khó nói năng lưu loát, cảm thấy khó chịu khi phải nói trước đám đông.

Ở những người có một số ít triệu chứng sợ xã hội, các chức năng nhìn chung vẫn tốt, họ có thể che dấu các triệu chứng khi phải tham gia vào các tình huống xã hội gây sợ hãi, khi đó họ có lo âu mạnh, nếu sợ nhiều tình huống xã hội sẽ dẫn đến sợ cô lập về xã hội mạn tính, mất khả năng nói lưu loát và tổn thương trong quan hệ với mọi người. Họ thường uống rượu và các thuốc an dịu để giảm lo âu nên một số người dẫn đến lạm dụng thuốc và rượu.

Những người có ám ảnh sợ xã hội thường là những người trẻ, trình độ văn hoá thấp, có tỷ lệ cao bị lo âu trầm cảm, sợ thất nghiệp, sợ bị loại khỏi xã hội, sợ bị xã hội đánh giá xấu.

Hơn nữa, ám ảnh sợ xã hội có thể phát triển trong các giai đoạn nhất định, chẳng hạn như thanh niên, hoặc sau khi kết hôn, khi đi làm, thay đổi nghề nghiệp và nơi ở. Các lo lắng như vậy chỉ trở thành ám ảnh sợ xã hội khó vượt quá sự kiểm soát của bệnh nhân và cản trở họ tham gia các hoạt động xã hội nghề nghiệp. Theo DSM5, ám ảnh sợ xã hội sẽ bộc lộ rõ nhất khi bệnh nhân phải nói hoặc biểu diễn trước công chúng.

5. Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt theo DSM5

5.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán

A. Sợ hãi hay lo âu rõ ràng về một hay nhiều tình huống xã hội mà người bệnh sẽ được tiếp xúc và giám sát bởi người khác (dạng như tương tác xã hội), họ bị quan sát (ví dụ: ăn hay uống), hoặc trình diễn trước những người khác (ví dụ: phát biểu trước đám đông).

Lưu ý: ở trẻ em, sự lo lắng phải xảy ra trong các tình huống với cùng lứa tuổi, không chỉ trong tương tác với người lớn.

B. Bệnh nhân có lo ngại rằng hành động mà họ sẽ thực hiện hay sự biểu hiện triệu, chứng lo âu sẽ bị đánh giá tiêu cực (chẳng hạn như bị nhục nhã hoặc lúng túng; sẽ dẫn đến sự từ chối hoặc xúc phạm người khác).

C. Các tình huống xã hội hầu như đều gây sợ hay lo âu.

Lưu ý: ở trẻ em, nỗi sợ hãi hay lo âu có thể được biểu hiện bằng việc khóc, ăn vạ, bất động, bám, thu hẹp lại, hoặc không nói chuyện trong các tình huống xã hội.

D, Bệnh nhân có xu hướng né tránh các tình huống xã hội hoặc họ phải chịu đựng với sự sợ hãi hay lo âu.

E. Sợ hãi hay lo âu không tương xứng với mối đe dọa thực tế đặt ra bởi tình huống xã hội, và với bối cảnh văn hóa xã hội.

F. Sự sợ hãi, lo âu, hoặc né tránh là diễn ra dai dẳng, kéo dài từ 6 tháng trở lên.

G. Sự sợ hãi, lo âu, hoặc né tránh gây ra những đau khổ, phiền toái trên lâm sàng hoặc gây suy giảm chức năng xã hội, nghề nghiệp, hoặc chức năng quan trọng khác.

H. Sợ hãi, lo âu, hoặc né tránh xảy ra không phải do nguyên nhân tác dụng sinh lý của một chất (ví dụ: nghiện ma túy hoặc do một thuốc) hoặc một bệnh khác.

5.2. Chẩn đoán phân biệt

– Xa lánh các tình huống xã hội có thể gặp trong rối loạn nhân cách khép kín, rối loạn nhân cách paranoid, ám ảnh sợ khoảng trống, rối loạn ám ảnh cưỡng bức, trầm cảm, tâm thần phân liệt.

– Bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid: những bệnh nhân này sợ rằng người khác làm hại mình; ngược lại, bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội không tiếp xúc với những đám đông vì e ngại, xấu hổ, sợ bị sỉ nhục.

– Rối loạn nhân cách thể xa lánh: họ sợ bị người khác không cho tham gia các hoạt động, gây trò cười hoặc sỉ nhục. Sự phân biệt giữa rối loạn này và ám ảnh sợ xã hội phải căn cứ vào khái niệm và thuật ngữ nhưng không được rõ ràng mà còn tiếp tục bàn cãi thêm. Khi bệnh nhân xa lánh xã hội là tự động thì bác sĩ có thể sử dụng liệu pháp hoá dược để điều chỉnh hành vi. Bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội thì khó tham gia hoạt động xã hội, trong khi bệnh nhân rối loạn nhân cách xa lánh thì khó thiết lập được mối quan hệ bạn bè thân thiết.

Ám ảnh sợ khoảng trống: một số bệnh nhân ám ảnh sợ khoảng trống nhấn mạnh rằng họ tự mất kiểm soát nếu họ có cơn hoảng sợ trong tình huống xã hội. Không giống như bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội, bệnh nhân ám ảnh sợ khoảng trống có các cơn hoảng sợ kịch phát xảy ra trong các tình huống nhất định và được người khác nhận thấy.

Lo âu: bệnh nhân lo lắng trong mối quan hệ với mọi người hoặc có sự sỉ nhục dẫn đến xa lánh xã hội. Không được chẩn đoán là ám ảnh sợ xã hội khi chủng xảy ra trong phạm vi của tâm thần phân liệt, rối loạn dạng phân liệt, loạn thần cấp và trầm cảm.

Trầm cảm: bệnh nhân trầm cảm tự loại mình ra khỏi xã hội do mất hứng thú và sở thích với người khác; ngược lại, bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội vẫn có mong muốn được tiếp xúc với người khác, họ còn hứng thú và sở thích.

6. Tiến triển và tiên lượng

Ám ảnh sợ xã hội có khởi phát bệnh chủ yếu ở tuổi vị thành niên hoặc những năm đầu của tuổi thanh niên, thường sớm hơn so với rối loạn hoảng sợ có ám ảnh sợ khoảng trống. Bệnh tiến triển mạn tính.

Bệnh thường khởi phát cấp tính sau một lần bị sỉ nhục, nhưng cũng có thể tiến triển từ từ qua nhiều tháng, nhiều năm mà không có yếu tố thúc đẩy rõ ràng nào. Bệnh nhân bắt đầu cồ ám ảnh sợ xã hội ở tuổi học sinh khi đang đi học trong nhà trường. Khác với các rối loạn lo âu khác; bệnh phổ biến như nhau ở nam và nữ, nhưng bệnh nhân nữ hay đến khám bệnh hơn bệnh nhân nam.

Do ám ảnh sợ xã hội là bệnh mạn tính nên có nhiều tổn thương. Một nửa số bệnh nhân có tổn thương một vài lĩnh vực cuộc sống, không phụ thuộc vào vị trí xã hội của họ. Yếu tố tiên lượng tốt của ám ảnh sợ xã hội là khởi phát sau tuổi 11, không có các bệnh tâm thần phối hợp, tình trạng học tập tốt.

Khoảng một nửa số bệnh nhân hồi phục gần hoàn toàn. Bệnh kéo dài trung bình là 25 năm. Yếu tố quan trọng cho hồi phục là trẻ được sự giúp đỡ của xã hội, khởi phát sau 7 tuổi, có rất ít triệu chứng, không có các bệnh cơ thể phối hợp, không có bệnh trầm cảm phối hợp.

7. Điều trị

7.1. Điều trị bằng thuốc

7.1.1.  Thuốc ức chế beta

Người ta nhận thấy thuốc ức chế beta có kết quả với ám ảnh sợ xã hội đặc biệt là cắt các cơn lo âu cấp. Sau khi uống thuốc ức chế beta vài giờ bệnh nhân giảm đánh trống ngực, run và giảm cảm giác “khủng khiếp”. Có nhiều loại thuốc ức chế beta được sử dụng, nhưng hay . dùng nhất là betaloc, dùng liều 25mg hoặc 50mg, uống 45 phút trước khi vào các tình huống xã hội gây ám ảnh. Thuốc có hiệu quả nhanh, hầu như không có tác dụng phụ so với benzodiazepin.

7:1.2. Benzodiazepin

Benzodiazepin được dùng để điều trị ám ảnh sợ xã hội, trong dó, clonazepam liều 0,5 – 3mg/ngày cồ hiệu quả giảm ám ảnh sợ xã hội trên 78% số bệnh nhân. Bệnh nhân cải thiện về lo âu, ám ảnh xa lánh, giảm tự ti. Alprazolam cũng cho kết quả tốt điều trị ám ảnh sợ xã hội có thể tương đương với liệu pháp nhận thức hành vi; tuy nhiên, chỉ sau 2 tháng ngừng điều trị bằng alprazolam thì tỷ lệ tái phát bệnh lại rất cao. Do có thời gian bán hủy dài hơn nên clonazepam là lựa chọn tốt hơn alprazolam. Cả 2 thuốc này đều có ưu điểm là dung nạp tốt, hiệu quả xuất hiện nhanh; tuy nhiên, dùng thuốc lâu dài cũng dễ gây lạm dụng thuốc và không có hiệu quả với rối loạn trầm cảm phối hợp. Vì thế benzodiazepin không được coi là lựa chọn hàng đầu để điều trị ám ảnh sợ xã hội.

7.1.3.   Thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin

Vài năm trước đây, thuốc chống trầm cảm SSRI đã được dùng điều trị cho bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội và đã trở thành lựa chọn hàng đầu cho điều trị bệnh này. Nói chung, tất cả các thuốc SSRI đều có hiệu quả giống nhau trong điều trị ám ảnh sợ xã hội. Các thuốc này được dung nạp tốt, dễ sử dụng và liềụ thuốc tương tự như khi điều trị trầm cảm.

– Paroxetin đã được ủy ban Quản lý thực phẩm và thuốc (FDA) của Mỹ cho phép dùng điều trị ám ảnh sợ xã hội. Khoảng 2/3 số bệnh nhân đáp ứng điều trị với liều trung bình 40mg/ngày.

Fluvoxamine với liều 150mg/ngày dùng trong 12 tuần cũng có kết quả trên 46% số trường hợp, nhưng khi dùng liều fluvoxamine 200mg/ngày hiệu quả điều trị vẫn không tăng lên.

– Điều trị bằng sertraline liều 50 – 200mg/ngày, sau 8 tuần điều trị có đến 80% số bệnh nhân được cải thiện tốt. Sertraline cũng được FDA cho phép dùng điều trị ám ảnh sợ xã hội.

7.1.4.   Các loại thuốc chống trầm cảm khác

Các loại thuốc chống trầm cảm mới khác như venlafaxine, mirtazapine cũng có kết quả tốt khi điều trị ám ảnh sợ xã hội.

Các thuốc buspirone, nefazodone cũng cho kết quả điều trị rõ ràng. Các thuốc này dùng để thay thế các thuốc chống trầm cảm SSRI khi bệnh nhân không dung nạp với SSRI.

Với các trường hợp bệnh nhân kháng điều trị, có thể kết hợp SSRI với gabapentin (liều có thể tới 900mg/ngày) để tăng hiệu quả điều trị.

7.2. Điều trị bằng liệu pháp nhận thức hành vi

Ba kỹ thuật chủ yếu của liệu pháp nhận thức hành vi được sử dụng rất có hiệu quả trong điều trị ám ảnh sợ xã hội là: bộc lộ, cấu trúc lại nhận thức và đào tạo kỹ năng xã hội.

– Điều trị bằng kỹ thuật bộc lộ bao gồm: tưởng tượng hoặc tiếp cận với các hình thức gây sợ hãi đặc biệt hoặc các tình huống xã hội. Do bệnh nhân có mức độ lo âu với xã hội cao cho nên cần để bệnh nhân tiếp xúc với tình huống gây lo âu từ ít đến nhiều, từ tình huống đơn giản đến phức tạp.

– Đào tạo các kỹ năng xã hội là giúp bệnh nhân học các hành vi tiếp cận các tình huống xã hội, các hành vi cần có để làm giảm lo âu xã hội, dần dần bệnh nhân có các đáp ứng tốt với các tình huống xã hội đó. Không cần áp dụng kỹ thuật đào tạo các kỹ năng xã hội với tất cả các bệnh nhân có ám ảnh sợ xã hội mà chỉ nên áp dụng cho bệnh nhân có các khó khăn trong mối quan hệ với mọi người, lo âu xã hội quá nhiều hoặc xa lánh các tình huống xã hội.

– Tái cấu trúc lại nhận thức của bệnh nhân tập trung vào những nội dung mà bệnh nhân có rất nghèo nàn: sợ bị người khác bỏ rơi, tạo cơ hội tái hòa nhập xã hội sau khi ra viện. Tái cấu trúc lại nhận thức bao gồm: làm các việc nhà khác nhau, xác định các ý nghĩ tiêu cực, đánh giá sự chính xác của họ và xây dựng lại suy nghĩ của bệnh nhân trong các tình huống thực tế.

Kết quả của liệu pháp nhận thức hành vi là khác nhau và phụ thuộc vào các triệu chứng của ám ảnh sợ xã hội các mức độ mất chức năng của bệnh nhân. Tuy nhiên, do có hiệu quả điều trị rõ ràng nên liệu pháp nhận thức hành vi được xây dựng một cách chi tiết cho điều trị ám ảnh sợ xã hội.

Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng bộc lộ, tái cấu trúc lại nhận thức, đào tạo kỹ năng xã hội đều cho hiệu quả tốt cho bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội. Hơn nữa, kỹ thuật này tỏ ra tốt hơn hẳn các kỹ thuật khác trong điều trị ám ảnh sợ xã hội.

7.3. Phối hợp điều trị

Người ta hay kết hợp giữa liệu pháp nhận thức và hành vi với thuốc trong điều trị ám ảnh sợ. Khi so sánh liệu pháp chỉ điều trị bằng thuốc đơn thuần với liệu pháp nhận thức và hành vi, đơn thuần, người ta nhận thấy hiệu quả điều trị sau 12 tuần là nhừ nhau. Có điều liệu pháp nhận thức hành vi hiệu quả xuất hiện chậm hơn và lâu đạt tới hiệu quả tối đa hơn.

Tuy nhiên, vì ám ảnh sợ xã hội là bệnh mạn tính nên phải điều trị kéo dài; do vậy, hiệu quả điều trị xuất hiện muộn một chút cũng không phải là quan trọng. Thông thường, người ta kết hợp cả 2 liệu pháp này: lúc đầu bệnh nhân được điều trị bằng thuốc 6 tháng, sau đó bệnh nhân được điều trị củng cố tiếp tục bằng liệu pháp nhận thức và hành vi trong tối thiểu 6 tháng tiếp theo; kết quả là tỷ lệ đáp ứng điều trị tốt cao hơn hẳn liệu pháp dùng thuốc đơn thuần.

Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here