Thuốc Multicand có tác dụng điều trị nấm và nhiễm trùng

Enter your keyword

Thuốc Multicand có tác dụng điều trị nấm và nhiễm trùng

In stock N/A .
79 10/04/2018 8:17:15

Mô tả

Thuốc Multicand có tác dụng điều trị nấm và nhiễm trùng
5 (100%) 1 vote

THÀNH PHẦN:

Mỗi viên nang Multicand chứa:

Hoạt chất: Itraconazole 100mg

Tá dược: Vỏ nang gelatin cứng cỡ số “0″.

Thuốc Multicand

Hình ảnh: Thuốc Multicand

DẠNG BÀO CHẾ:

Viên nang gelatin cứng.

TRÌNH BÀY:

Mỗi vỉ Nhôm/ Nhôm chứa 10 viên nang. 01 vỉ như vậy được đóng trong một hộp carton và một tờ hướng dẫn sử dụng.

DƯỢC LÝ:

Itraconazole là một dẫn xuất triazole, có hoạt tính đối với vi nấm dermatophytes (các chủng Trichophyton, Microsporum, Epidermophyton floccosum), nấm men (Cryptococcus neoformans, các chủng Candida bao gồm c. albicans, C. glabrata và C. krusei, các chủng Pityrosporum), các chủng Aspergillus, các chúng Hisloplasma. Paracoccidioides brasiliensis, Sporothrix schenckii, các chủng Fonsecaea, các chủng Cladosporium. Blastomyces dermatitidis và các vi nấm và nấm men khác.

Các nghiên cứu, trong ống nghiệm đã xác nhận rằng Itraconazole gây rối loạn việc tổng hợp ergosterol của tế bào vi nấm. Ergosterol là một thành phần thiết yếu của màng tế bào vi nấm. Sự rối loạn việc tổng hợp chất này dẫn đến tác dụng kháng nấm.

DƯỢC ĐỘNG HỌC:

Itraconazole được hấp thu nhanh sau khi uống. Sự hấp thu cùa Itraconazole đạt tối đa khi thuốc được uống ngay sau khi ăn no. Nồng độ đỉnh trong huyết thanh xấp xỉ 150 – 250 µg/l với liều duy nhất 100 mg, sinh khả dụng toàn thân tuyệt đối là 55%. Itraconazole gắn kết cao với protein huyết tương, khoảng 99,82%. Nồng độ có tác dụng điều trị của Itraconazole được duy trì trong các mô lâu hơn nhiều trong huyết tương. Itraconazole xâm nhập vào dịch não tủy, nước tiểu và phúc mạc ở nồng độ thấp. Itraconazole được chuyển hóa mạnh tại gan. Không thấy thuốc dưới dạng không bị biến đổi được bài xuất qua nước tiểu nhưng 35% liều dùng được thải trừ qua đường này dưới dạng các chất chuyển hóa. Bài xuất qua phân chiếm 54% liều dùng, với 3-18% dưới dạng không bị biến đổi.

Thời gian bán thải của Itraconazole được kéo dài đến 37 giờ ở những bệnh nhân bị xơ gan. Suy thận ít ảnh hưởng đến dược động học của thuốc.

CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ:

  • Nhiễm nấm ngoài da/ nhãn khoa: Itraconazole có tácdụng với các loại nhiễm khuẩn do nấm ký sinh trên da gây ra, nấm móng, lang ben.
  • Phụ khoa: Nhiễm Candida âm đạo-âm hộ.
  • Nấm nội tạng: nhiễm nấm nội tạng,do nấm Aspergillus và Candida, nhiễm nấm Cryptococcus (kề cả viêm màng não do Cryptococcus), nhiễm nấm Histoplasma, Sporothrix, Paracoccidioides, Blastomyces và các nhiễm nấm nội tạng hoặc nhiễm nấm vùng nhiệt đới hiếm gặp khác.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH:

  • Bệnh nhân mẫn cảm với Itraconazole hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc. Mẫn cảm với các azol khác.
  • Phụ nữ có thai: Do các tác dụng gây quái thai đã được báo cáo ở chuột cống và chuột nhắt dùng liều cao, do đó không được dùng Itraconazole cho phụ nữcó thai.
  • Các bà mẹ đang cho con bú: Vì không biết về độ an toàn cho các bệnh nhân này
  • Bệnh gan: Không dùng cho những bệnh nhân bị bệnh gan nặng.
  • Dùng đồng thời với rifampicin: không dùng Itraconazole cho bệnh nhân đang điều trị với rifampicin vì ban đầu rifampicin ức chế và sau đó tăng sự chuyển hóa chất kháng nấm.
  • Chống chỉ định dùng chung những thuốc sau với Itraconazole: terfenadine, astemizole, cisapride, quinidine, pimozide, các thuốc ức chế HMG-CoA reductase được chuyển hóa bởi CYP3A4 như: simvastatin và lovastatin, các thuỗc triazolame và midazolame uổng.

CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG:

  • Itraconazole có khả năng gây những tương tác thuốc quan trọng trên lâm sàng.
  • Sự hấp thu thuốc sẽ kém khi tính acid dạ dày giảm, do đó các thuốc trung hòa acid (vi dụ: hydroxyd nhôm) phải uống sau Itraconazole ít nhất 2 giờ. Ở bệnh nhẩn thiếu axid dịch vị như: một số bệnh nhân AIDS và bệnh nhân dùng thuốc kháng tiết acid (như chất đối kháng H2, chất ức chế bơm proton) được khuyến cáo nên uống thuốc Itraconazole cùng với nước giải khát cola.
  • Nên giám sát chức năng gan ở những bệnh nhân dùng thuốc điều trị liên tục trong hơn một tháng và những bệnh nhân thấy có những triệu chứng viêm gan như chán ăn, buồn nôn, nôn, mệt mỏi, đau bụng hoặc nước tiểu sậm màu. Nấu có bất thường xảy ra, nên ngừngđiều trị.
  • Ở những bệnh nhân tăng men gan hay có bệnh gan tiến triển hoặc bị nhiễm độc gan do thuốc khác, không nên điều trị với Itraconazole trừ khi lợi ích mong đợi cao hơn những nguy cơ tổn thương gan. Trong những trường hợp như vậy, cần giám sát chặt chẽ men gan
  • Suy gan: Itraconazole được chuyển hóa chủ yếu ở gan. Nửa đời thải trừ tận cùng của Itraconazole ở bệnh nhân xơ gan bị tăng nhẹ. Khả dụng sinh học đường uống ở bệnh nhân xơ gan bị giảm nhẹ. Nên giám sát nồngđộ Itraconazole trong huyết tương để điều chỉnh liều khi cần thiết.
  • Nếu xảy ra bệnh lý thần kinh có liên quan đến Itraconazole, nên ngưng điều trị.
  • Suy thận: khả dụng sinh học khi uống của Itraconazole bị giảm ở những bệnh nhân suy thận. Nên giám sát nồng độ Itraconazole ở huyết tương và điều chỉnh liều thích hợp.
  • Không có một thông tin nào đề cập đến phản ứng chéo giữa Itraconazole và các thuốc kháng nấm thuộc nhóm azole khác. Cần thận trọng trong việc kê toa Itraconazole cho những bệnh nhân nhạy cảm với các thuốc thuộc nhóm azole khác.

PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ MẸ CHO CON BÚ:

Bà mẹ cho con bú:

Không dùng vì không có thông tin về độ an toàn của thuốc trong thời gian cho con bú, trong trường hợp cần dùng thuốc, nên ngừng cho con bú.

Phụ nữ có thai:

Chống chỉ định cho phụ nữ có thai do thuốc có gây quái thai ở động vật thí nghiệm

Sử dụng trong nhi khoa: các dữ kiện lâm sàng về việc dùng Itraconazole ở bệnh nhi còn hạn chế, vi vậy không nên dùng Itraconazole ở trẻ em < 12 tuổi, trừ khi lợi ích điều trị cao hơn nguy cơ có thể xảy ra.

TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN:

Các tác dụng không mong muốn nặng hoặc không phục hồi: trong các nghiên cứu với liều cao hơn, đã có báo cáo các trường hợp phù phụ thuộc nhẹ và tăng huyết áp toàn thân vừa phải. Bất thường chức năng gan tạm thời xảy ra trên 1 -2% bệnh nhân; tuy nhiên, chưa có báo cáo về suy chức năng gan nặng như đã xảy ra với ketoconazole.

Các tác dụng không mong muốn triệu chứng: Tác dụng không mong muốn hay xảy ra như là đau bụng và buồn nôn, xảy ra trên 5% bệnh nhên được điều trị với Itraconazole. Đau đầu và tiêu chảy cũng đã được báo cáo. Mất ham muốn tình dục với mức testosterone bình thường ở nam. Các triệu chứng trên hệ thần kinh trung ương bao gồm chóng mặt, ngủ gà, sợ ánh sáng và ảo giác cũng được báo nhưng không rõ các triệu chứng này có liên quan đến thuốc hay không. Các triệu chứng ở đường tiêu hóa phổ biến hơn với những liều > 200 mg/ngày. Chỉ trong một số ít trường hợp phải ngừng điều trị do buồn nôn hoặc nôn khó chữa được.

TƯƠNG TÁC VỚI CÁC THUỐC KHÁC:

Thức ăn: Itraconazole được hấp thu tốt nhất khi uống trong hoặc ngay sau bữa ăn.

Các thuốc ảnh hưởng trên sự chuyển hóa Itraconazole:

  • Những nghiên cứu về tương tác thuốc đã được thực hiện với rifampicine, rifabutin và phenytoin. Vì khả dụng sinh học của Itraconazole và hydroxy-ltraconazole giảm đi trong những nghiên cứu này tới một mức độ làm giảm hiệu quả điều trị rất nhiều, nên thuốc được khuyên không nên kết hợp với những chất cảm ứng men mạnh này. Hiện nay chưa có một số liệu nghiên cứu chính thức cho các thuốc cảm ứng men khác như là carbamazepine, phenobarbital và isoniazid, nhưng cần tiên lượng những hậu quả tương tự có thể xảy ra.
  • Do Itraconazole được chuyển hóa chủ yếu qua CYP3A4, những chất ức chế mạnh enzyme này có thể làm tăng khả dụng sinh học của Gồm: ritonavir, indinavir và clarithromycin.

Tác dụng của Itraconazole trên sự chuyển hóa của những thuốc khác:

Itraconazole có thể ức chế sự chuyển hóa của những thuốc được chuyển hóa bởi men cytochrome 3A. Điều này có thể làm tăng và/ hoặc kéo dài tác dụng của chúng kể cả tác dụng không mong muốn. Sau khi ngừng điều trị, nồng độ Itraconaizole trong huyết tương giảm dần tùy thuộc vào liều dùng và thời gian điều trị. Cần quan tâm đến vấn đề này khi xem xét tác dụng ức chế của Itraconazole trên những thuốc dùng chung.

  • Các thuốc không được dùng chung với Itraconazole trong điều trị: terfenadine, astemizole, cisapride, triazolam, midazolam uống, quinidine, pimozide, các chất ức chế men khử HMG-CoA reductase được chuyển hóa bởi CYP3A4 như simvastatin,
  • Những thuốc cần giám sát nồng độ trong máu. tác dụng hay tác dụng không mong muốn: Nếu điều trị phối hợp với Itraconazole, các thuốc này nên giảm liều khi cần: Thuốc chống đông đường uống; Thuốc ức chế protease HIV như ritonavir, indinavir, saquinavir; – Một số thuốc điều trị ung thư như là vinca alkaloids, busulphan, docetaxel vả trimetrexate; Thuốc ức chế canxi chuyển hóa bởi CYP3A4 như là dihyđropiridines và verapamil; Một số thuốc ức chế miễn dịch: cyclosporin, tacrolimus, rapamycin; Các thuốc khác: digoxin, carbamazepine, buspirone, alfenlanil, alprazolam, midazolam tiêm mạch, rifabutin, methylprednisolone.
  • Không thấy tương tác giữa Itraconazole với AZT (zidovudine) và fluvastatinc.
  • Người ta không thấy ảnh hưởng của Itraconazole trên chuyển hóa cra ethinyloestradiol và norethisterone.

Tác dụng trên sự gắn protein huyết tương.

Những nghiên cứu trên vitro đã cho thấy không có sự tương tranh trên sự gắn protein huyết tương giữa Itraconazole và imipramine, propranolol, diazepam, cimetidine, indomethacine, tolbutamide và sulfamethazine.

QUÁ LIỀU:

Hiện chưa có các dữ kiện về quá liều với Itraconazole. Trong trường hợp quá liều, cần áp dụng các biện pháp hỗ trợ. Trong vòng một giờ đầu sau khi uống cần rửa dạ dày, có thể sử dụng than hoạt nếu thích hợp. Hiện nay chưa có thuốc giải độc đặc hiệu.

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG:

Để đạt sự hấp thu tối đa, cần thiết phải uống ltraconazole ngay sau khi ăn no. Viên nang Itraconazole cần được uống nguyên cả viên.

  • Phụ khoa: Nhiễm Candida âm đạo, âm hộ: 200 mg, 2 lần/ ngày trong 1 ngày hoặc 200 mg, 1 lần/ ngày trong 3 ngày;
  • Ngoài da: 200 mg, 1 lần/ ngày x 7 ngày.
  • Ở một số bệnh nhân thương tổn miễn dịch như: giảm bạch cầu trung tính, bệnh nhân AIDS, bệnh nhân cấy ghép cơ quan, khả dụng sinh học đường uống của Itraconazole có thể bị giảm. Vì vậy, cần tăng gấp đôi liều dùng.
  • Nhiễm nấm giác mạc mắt: 200 mg, 1 lần/ ngày x 21 ngày.
  • Nấm móng :

– Điều trị đợt cách quãng: (xem bảng phía dưới)

Một đợt bao gồm: 2 viên nang (200 mg), 2 lần/ ngày, trong 1 tuần. Dùng 2 đợt điều trị cho nhiễm nấm móng tay, và 3 đợt điều trị cho nhiễm nấm móng chân. Các đợt điều trị luôn luôn được cách nhau bởi 3 tuần không dùng thuốc.

Đáp ứng lâm sàng sẽ được thấy rõ khi móng phát triển trở lại sau khi ngưng điều trị. Cụ thể như sau:

– Điều trị liên tục: 2 viên nang mỗi ngày (200 mg, 1 lần/ ngày) x 3 tháng.

Sự thải trừ Itraconazole khởi tổ chức da và móng chậm hơn sự thải trừ khỏi huyết tương. Các hiệu quả tối ưu về lâm sàng thường đạt được từ 2 đến 4 tuần sau khi kết thúc liệu trình điều trị nấm da và 6 – 9 tháng sau khi kết thúc liệu trình điều trị nấm móng.

  • Nấm nội tạng: 200 mg, 1 lần/ ngày, thời gian từ 3 tuần đến 12 tháng theo loại vi nấm bị nhiễm
  • Điều trị duy trì cho các trường hợp viêm màng não: 200 mg, 1lần/ngày

TIẾU CHUẨN:

Theo tiêu chuẩn Nhà sản xuất

HẠN DÙNG:

3 tháng kể từ ngày sản xuất.

Không dùng thuốc quá hạn cho phép

BẢO QUẢN:

Bảo quản ở nơi khô và mát, nhiệt độ không quá 30°C

ĐỂ THUỐC TRÁNH XA TẦM TAY TRẺ EM

SĐK :VN-12039-11                                                                 g

Tên và địa chỉ nhà sản xuất:

SYNMEDIC LABORATORIES

Địa chỉ: 106-107, HSIDC, Industrial Estate, Sec-31,

Fandabad – 121 003. Haryana (INDIA).

Tel #91-129-2250627             Fax # 91-129-4104047

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Thuốc Multicand có tác dụng điều trị nấm và nhiễm trùng”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *