Phân loại, cơ chế tác dụng, nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh

Enter your keyword

Phân loại, cơ chế tác dụng, nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh
4.4 (88.89%) 18 votes

Kháng sinh là gì?

Theo ‘Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của bộ Y tế 2015’, kháng sinh được định nghĩa là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác.

thuốc kháng sinh

Hình ảnh: thuốc kháng sinh

Phân loại các nhóm kháng sinh

Theo cấu trúc hóa học, kháng sinh được sắp xếp thành các nhóm sau:

TT Tên nhóm Phân nhóm
1 Beta lactam penicillin
cephalosporin
Các beta lactam khác

Carbapenem

Monobactam

Chất ức chế beta lactamase
2 Amiglycosid
3 Macrolid
4 Lincosamid
5 Phenicol
6 tetracyclin Thế hệ 1
Thế hệ 2
7 peptid Glycopeptid
Polypeptid
lipopeptid
8 quinolon Thế hệ 1
Các flouroquinolon: thế hệ 2,3,4
9 Các nhóm kháng sinh khác
sulfonamid
oxazolidinon
5-nitroimidazol

 

Dựa vào tính nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh

  1. Kháng sinh diệt khuẩn bao gồm: penicillin, cefalosporin, aminosid.
  2. Kháng sinh kìm khuẩn bao gồm: tetracyclin, cloramphenicol và macrolid

Phân loại dự trên tỷ lệ MBC/MIC, với MBC là nồng độ diệt khuẩn tối thiểu – nồng độ thấp nhất làm giảm 99,9% số lượng vi khuẩn và MIC là nồng độ ức chế tối thiểu – nồng độ thấp nhất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn sau 24h nuôi cấy

Do cơ chế tác dụng khác nhau mà kháng sinh có tác dụng kìm khuẩn hay diệt khuẩn, đề cập ở phần cơ chế tác dụng.

cơ chế tác dụng của kháng sinh

Dựa vào cơ chế tác dụng:

  1. Thuốc ức chế tổng hợp vách tế bào: beta lactam, vancomycin, bacitracin, fossfomycin.
  2. Thuốc ức chế hoặc thay đổi tổng hợp protein của vi sinh vật: cloramphenicol, tetracyclin, macrolid, aminosid.
  3. Thuốc ức chế tổng hợp acid nhân: quinolon, rifampicin.
  4. Thuốc ức chế chuyển hóa: co-trimoxazol.
  5. Thuốc làm thay đổi tính thấm của màng tế bào: polymyxin, amphotericin

Cơ chế tác dụng của kháng sinh

Ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn

Vách tế bào được cấu tạo chủ yếu từ peptidoglycan, có vai trò bảo vệ và đảm bảo cho sự phát triển của tế bào. Các kháng sinh ức chế tổng hợp vách tế bào là các kháng sinh diệt khuẩn vì không có vách tế bào, vi khuẩn không thể tồn tại được, ví dụ là cơ chế hoạt động của beta-lactam.

Cơ chế tác dụng của beta lactam với Staphylococcus aureus

Hình ảnh: Cơ chế tác dụng của beta lactam với Staphylococcus aureus

Vách tế bào vi khuẩn bao gồm các polyme glycopeptide được liên kết qua các cầu nối giữa các chuỗi axit amin. Trong S. aureus, cầu nối là (Gly) 5-D-Ala tạo liên kết giữa các lysines. Sự hình thành liên kết chéo được xúc tác bởi transpeptidase, enzyme bị ức chế bởi penicillin và cephalosporin nhờ phản ứng acyl hóa các D-Alanine transpeptidase nhờ vậy ức chế giai đoạn cuối của quá trình tổng hợp vách tế bào. Quá trình tạo vách tế bào bị ngưng lại, tế bào vi khuẩn không có vách che chở sẽ bị tiêu diệt.

Tác động lên quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn

Kháng sinh gắn vào tiểu đơn vị 30S và 50S của ribosom, làm gián đoạn quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn nên chỉ có tác dụng kìm khuẩn chứ không tiêu diệt được vi khuẩn.

Cơ chế tác dụng của kháng sinh Tetracyclin

Hình ảnh: Cơ chế tác dụng của kháng sinh Tetracyclin

Tetracyclin ức chế sự tổng hợp protein của tế bào bằng cách gắn vào phần 30S của ribosom dẫn đến ức chế gắn aminoacyl – ARNt mới vào vị trí tiếp nhận trên phức hợp ARNm-ribosom è acid amin không thể tiếp tục gắn vào chuỗi peptid nên tetracyclin có tác dụng kìm khuẩn.

cơ chế tác dụng của kháng sinh Cloramphenicol

Hình ảnh: cơ chế tác dụng của kháng sinh Cloramphenicol

Cloramphenicol ức chế tổng hợp protein của vi khuẩn do gắn vào 50S của ribosom, ức chế phản ứng chuyển peptid (transpeptidase reaction), ức chế tạo thành liên kết peptid è cản trở việc gắn thêm acid amin vào chuỗi peptid đang được thành lập.

Cơ chế tác dụng của kháng sinh Macrolid và lincosamid

Hình ảnh: Cơ chế tác dụng của kháng sinh Macrolid và lincosamid

Macrolid và lincosamid ức chế tổng hợp protein do gắn vào tiểu đơn vị 50S của ribosom, ngăn cản sự chuyển vị peptidyl – ARNt từ vị trí tiếp nhận sang vị trí cho nên các aminoacyl – ARNt mới không thể vào vị trí tiếp nhận, làm cho acid amin không gắn vào chuỗi peptid đang thành lập.

Cơ chế tác dụng của kháng sinh Aminosid

Hình ảnh: Cơ chế tác dụng của kháng sinh Aminosid

Aminosid gắn vào tiểu phân 30S của ribosom gây biến dạng ribosom, làm sai lệch quá trình tổng hợp protein cần thiết của vi khuẩn theo các cách sau:

  • Cản trở việc hình thành phức hợp khởi đầu
  • Gây đọc sai mã nên trình tự sắp xếp acid amin không đúng à các protein của vi khuẩn không có hoạt tính, vi khuẩn bị tiêu diệt.
  • Cản trở dịch mã sau đó và kết thúc dịch mã sớm

Ức chế tổng hợp acid nhân

Quá trình tổng hợp acid nhân được thực hiện qua 2 giai đoạn sao mã và phiên mã. Sao chép: phân tử ADN tự nhân đôi để ạo ra các ADN mới giống ADN mẹ bằng ADN polymerase. Sau đó ADN này liên kết lại với nhau thành vòng xoắn. quá trình đóng mở vòng xoắn ADN để sao chép được thực hiện nhờ ADN-gyrase. Phiên mã: là quá trình chuyển thông tin từ ADN cho ARNm nhờ ARN polymerase phụ thuộc ADN.

Quá trình ức chế tổng hợp acid nhân: quinolon gắn với topoisomerase II của vi khuẩn (ADN – gyrase) làm mất hoạt tính enzym. Do không có khả năng mở vòng xoắn để thực hiện việc sao chép mã di truyền được nên vi khuẩn bị tiêu diệt. Rifampicin gắn vào tiểu đơn vị beta của ARN polymerase phụ thuộc ADN nên ức chế tổng hợp ARN.

Kháng chuyển hóa (ức chế tổng hợp acid folic)

Các kháng sinh kháng chuyển hóa như Co-trimoxazol, gồm trimethoprim (TMP) và sulfamethoxazol (SMZ) có khả năng ức chế cạnh tranh với enzym dihydrofolat synthetase và dihydrofolat reductase à ức chế quá trình tổng hợp và chuyển hóa acid folic – yếu tố cần cho sự tồn tại và phát triển của vi khuẩn.

SMZ có cấu trúc tương tự acid para aminobenzoic (PABA), cạnh tranh với PABA nhờ ái lực cao với dihydrofolat synthetaseà ức chế giai đoạn I của quá trình tổng hợp acid folic. TMP gắn cạnh tranh và ức chế dihydrofolat reductase –  enzym xúc tác cho phản ứng chuyển acid dihydrofolic thành acid tetrahydrofolic à ức chế giai đoạn II của quá trình tổng hợp acid folic

Thay đổi tính thấm của mang

Polymyxin là một cation, gắn vào lớp phospholipid của màng tế bào vi khuẩn, phá vỡ cấu trúc mang, các thành phần trong tế bào thoát ra ngoài làm vi khuẩn bị tiêu diệt. Polymyxin cũng có khả năng gắn và bất hoạt nội độc tố của vi khuẩn.

Sự kháng kháng sinh của vi khuẩn

Kháng sinh là thuốc dùng để ngăn ngừa và điều trị nhiễm khuẩn. Kháng kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn thay đổi đáp ứng với việc sử dụng các loại thuốc này.

kháng kháng sinh của vi khuẩn

Hình ảnh: Sự kháng kháng sinh của vi khuẩn

Khi tình trạng kháng kháng sinh tăng lên, vi khuẩn có thể tác động lên con người và động vật mà không có thuốc để chữa trị. Kháng kháng sinh dẫn đến tình trạng tăng chi phí y tế, kéo dài thời gian nằm viện và tăng nguy cơ tử vong ở người bệnh. Ở Việt Nam và trên thế giới, vi khuẩn kháng thuốc đang trở thành mối đe dọa ngày càng lớn. Vì vậy, thay đổi hành vi trong kê đơn và sử dụng kháng sinh trong, ngăn cản sự tăng lên của kháng thuốc ở vi khuẩn, là điều cần thiết hiện nay.

Cơ chế kháng kháng sinh

Tạo enzym phân hủy hoặc biến đổi kháng sinh

Vi khuẩn tiết ra enzym betalactamase phá hủy vòng beta lactam, làm mất tác dụng của các kháng sinh nhóm betalactam.

Cơ chế kháng kháng sinh

Hình ảnh: Cơ chế kháng kháng sinh

Thay đổi tính thấm màng tế bào

Tính thấm của màng thay đổi làm thuốc không thể xâm nhập được vào tế bào. Kháng sinh thân nước như tetracyclin, penicillin vận chuyển this cực vào tế bào vi khuẩn qua kênh porin rồi tập trung gắn lên các receptor tại tế bào vi khuẩn. vì vậy, vi khuẩn không có kênh porin kháng lại các kháng sinh này.

Thay đổi đích tác dụng

Vi khuẩn kháng thuốc có thể do thay đổi receptor gắn thuốc. vi khuẩn kháng aminosid vì thay đổi receptor trên tiểu đơn vị 30S, macrolid thì thay đổi trên 50S.

Nguyên tắc sử dụng kháng sinh

Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn

Các kháng sinh thường chỉ có tác dụng với vi khuẩn  phải xác định xem cơ thể có nhiễm khuẩn không mới dùng kháng sinh, để tránh tình trạng kháng kháng sinh. Có thể xác nhận nhiễm khuẩn bằng xét nghiệm vi sinh hoặc dựa trên dấu hiệu lâm sàng như sốt trân 390C.

Lựa chọn kháng sinh và liều lượng

Lựa chọn kháng sinh phụ thuộc vào 2 yếu tố: người bệnh và vi khuẩn gây bệnh. Về người bệnh, cần xem xét các yếu tố: tuổi, tiền sử dị ứng, chức năng gan-thận, tình trạng suy giảm miễn dịch, mức độ nặng của bệnh. bệnh mắc kèm, cơ địa dị ứng,.. nếu bệnh nhân là phụ nữ, cần lưu ý đối tượng phụ nữ có thai và cho con bú để cân nhắc lợi ích/nguy cơ. Về vi khuẩn, các yếu tố cần kiểm tra trước khi sử dụng kháng sinh là: loại vi khuẩn, độ nhạy với khagns sinh, dữ liệu vi sinh ở địa phương để cân nhắc trong sử dụng kháng sinh kinh nghiệm. Cần lưu ý các biện pháp phối hợp để giảm mật độ vi khuẩn và tăng nồng độ kháng sinh tại ổ viêm như làm sạch ổ mủ, dẫn lưu, loại bỏ ổ hoại tử.. nếu cần.

Liều dùng:

Phụ thuộc vào các yếu tố như tuổi của người bệnh, cân nặng, chức năng gan thận, mức độ nặng của bệnh. Kê đơn không đủ liều có thể làm thất bại điều trị và tăng tình trạng kháng kháng inhKhi sử dụng các kháng sinh có độc tính cao, phạm vi điều trị hẹp, cần giám sát nồng độ thuốc trong máu để tránh độc tính.

Lựa chọn kháng sinh trong các trường hợp:

Kháng sinh dự phòng: là sử dụng kháng sinh trước khi xảy ra nhiễm khuẩn nhằm mục đích phòng ngừa, giảm tần suất nhiễm khuẩn tại vị trí hoặc cơ quan được phẫu thuật, không dùng dự phòng nhiễm khuẩn toàn thân hoặc vị trí cách xa nơi phẫu thuật.

Lựa chọn kháng sinh dự phòng:

  • kháng sinh có phổ tác dụng phù hợp với các chủng vi khuẩn chính thường gây nhiễm khuẩn tại vết mổ và tình trạng kháng thuốc tại địa phương/bệnh việnchọn kháng sinh ít hoặc không gây tác dụng phụ hay các phản ứng có hại, độc tính của thuốc càng ít càng tốt. Không sử dụng các kháng sinh có nguy cơ độc không dự đoán được và có mức độ gây độc nặng không phụ thuộc liều.
  • kháng sinh không tương tác với thuốc gây mê.
  • kháng sinh ít có khả năng chọn lọc vi khuẩn đề kháng kháng sinh và thay đổi hệ vi khuẩn thường trú.
  • khả năng khuếch tán của kháng sinh trong mô tế bào phải cho phép đạt nồng độ thuốc cao hơn nồng độ kháng khuẩn tối thiểu của vi khuẩn gây nhiễm.
  • liệu pháp kháng sinh dự phòng có chi phí hợp lý, có chi phí thấp hơn chi phí kháng sinh trị liệu lâm sàng.

Kháng sinh điều trị theo kinh nghiệm:

sử dụng khi chưa có bằng chứng về vi khuẩn học do không có điều kiện nuôi cấy vi khuẩn hoặc khi nuôi cấy không phát hiện được nhưng có bằng chứng lâm sàng rõ rệt về nhiễm khuẩn.

Lựa chọn kháng sinh có phổ hẹp nhất gần với hầu hết tác nhân gây bệnh hoặc với các vi khuẩn nguy hiểm có thể gặp trong từng loại nhiễm khuẩn. Ngoài ra, cần cập nhật thường xuyên tình hình dịch tễ và độ nhạy của vi khuẩn tại địa phương để lựa chọn kháng sinh phù hợp.

Sử dụng kháng sinh khi có bằng chứng vi khuẩn học:

lựa chọn kháng sinh theo kháng sinh đồ, ưu tiên sử dụng kháng sinh đơn độc, phối hợp kháng sinh khi cần thiết nếu có nhiễm đồng thời nhiều loại vi khuẩn, vi khuẩn kháng thuốc mạnh hoặc khi điều trị kéo dài cần phối hợp để giảm nguy cơ kháng thuốc.

Sử dung kháng sinh đúng liều, đúng cách, đủ thời gian

Độ dài đợt điều trị phụ thuộc tình trạng nhiễm khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn và sức đề kháng của người bệnh. nhiễm khuẩn nhẹ và trung bình, thời gian điều trị thường là 7-10 ngày, nếu trường hợp nặng có thể kéo dài hơn. Một số trường hợp nhiễm khuẩn chỉ cần điều trị trong đợt ngắn như nhiễm khuẩn tiết niệu – sinh dục (có thể dùng 1 liều duy nhất).

Độ dài đợt điều trị tăng lên sẽ làm tăng nguy cơ kháng thuốc và tăng tỷ lệ gặp tác dụng không mong muốn.

Có thể sử dụng kháng sinh tác dụng kéo dài để giảm số lần sử dụng thuốc, tăng thuân thủ điều trị.

Đường đưa thuốc:

ưu tiên đường uống. Đường tiêm chỉ dùng trong các trường hợp như kém hấp thu qua đường uống do bệnh lý đường tiêu hóa, cần nồng độ kháng sinh trong máu cao, nhiễm khuẩn nghiêm trọng và tiến triển nhanh.

Phối hợp kháng sinh hợp lý

Phối hợp tác dụng hiệp đồng: penicillin và ức chế betalactamase, penicillin và aminosid, sulfamethazol và trimethoprim.

Phối hợp kháng sinh gây tác dụng đối kháng: penicillin và tetracyclin,..

Các kháng sinh tương kỵ nhau: không nên trộn lẫn trong cùng một bơm tiêm hoặc dịch truyền để tránh làm mất tác dụng của thuốc

One Comment

  1. […] được nhé bạn, trong toa bạn Bs có kê cefixim là thuốc kháng sinh. Nhóm thuốc này nếu dùng không đúng và không tuân thủ điều trị sẽ gây lờn […]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *