Tổng quan về bệnh Hen Phế Quản (HPQ)

Bệnh hen phế quản

Nguồn Sách Bệnh Học – Đại Học Dược

CHỦ BIÊN

PGS.TS. Lê Thị Luyến

THAM GIA BIÊN SOẠN:

PGS.TS. Lê Thị Luyến

TS.BS. Lê Thị Hăng

TS.BS. Nguyễn Thị Hương Giang

ThS.BS. Phan Thj Tổ Như

ThS.BS. Trần Thi Thanh Huyền

THAM GIA TỎ CHỨC BẢN THẢO: BS. Nguyễn Thị Kim Tiên

Nhà thuốc Ngọc Anh xin giới thiệu đến bạn đọc thông tin về tổng quan về bệnh Hen phế quản. Chương II bài 6 HEN PHẾ QUẢN –  tải bản đầy đủ tại đây

Định nghĩa, nguyên nhân và bệnh sinh

Định nghĩa

Hen phế quản (Asthma) là một bệnh không đồng nhất, đặc trưng bằng viêm mạn tỉnh đường hô hấp, được xác định bằng các triệu chứng hô hấp như thở rít, khó thở, bó nghẹt lồng ngực và ho; các triệu chứng xuất hiện nhiều lần, thay đối theo thời gian và cường độ, cùng với sự tắc nghẽn đường dẫn khi cỏ hồi phục. (Theo GINA 2021).

HPQ là bệnh mà chiếm tỉ lệ cao ở hầu hết các nước – bệnh lý về đường hô hấp.

Các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ biểu hiện bệnh HPQ

Nguyên nhân gây bệnh HPQ chưa được biết thật rõ ràng, nhưng chắc chắn rằng cơ địa dị ứng là yếu tố tiền đề. Dị nguyên gây cơ thể sản xuất ra nhiều IgE ở mức bất thường gây tình trạng tăng phản ứng ở phế quản.

Các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ phát triển bệnh HPQ có thể chia làm hai loại: yếu tố nguyên nhân gây ra bệnh HPQ và yếu tố kích thích xuất hiện các triệu chứng HPQ, có yếu tố đóng cả hai vai trò.

Yếu tố cá thể

Gen: cho đến nay, HPQ là bệnh được xác định có yếu tố gen nhưng cơ chế phức tạp. Các nghiên cứu gần đây cho thấy có rất nhiều gen tham gia vào quá trình sinh bệnh học của HPQ, trong đó có 4 vùng chính:

Gen quyết định cơ địa dị ứng

Gen gây tính phản ứng ở đường hô hấp

Gen liên quan đến chất trung gian hóa học

Gen xác định tỉ lệ TH1/TH2 khi đáp ứng miễn dịch

Béo phì: Người béo sẽ sản sinh ra nhiều leptin- chất tác động đến chức năng đường hô hấp, tăng nguy cơ phát triển thành hen phế quản

Giới: ở trẻ em < 14 tuổi, tỷ lệ nam mắc HPQ nhiều hơn nữ (gấp khoảng 2 lần). Khi trẻ lớn dần lên sự khác biệt về tỷ lệ ở nam và nữ ít dần. Người trưởng thành tỷ lệ HPQ ở nữ cao hơn nam. Nguyên nhân về sự khác biệt về tỷ lệ HPQ giữa 2 giới chưa được biết rõ ràng.

Yếu tổ môi trường

Dị nguyên: có rất nhiều dị nguyên là nguyên nhân gây ra các cơn hen kịch phát như dị nguyên trong nhà (bụi nhà, bọ nhà, lông súc vật nuôi, chất tiết từ con gián, nấm mốc), dị nguyên bên ngoài (phấn hoa, nấm, mốc). Cho đến nay vai trò đặc biệt của các dị nguyên trong sự phát triển thành HPQ vẫn chưa được hiểu biết thật đầy đủ.

Nhiễm vi khuẩn, virus đường hô hấp trên: Nếu trẻ nhỏ bị nhiễm Respiratory syncytial virusParainfluenza virus sẽ làm gây ra cơn hen và làm bệnh hen nặng hơn.

Môi trường làm việc: Môi trường làm việc được tìm thấy có khoảng 300 chất kích thích cơn hen.

Khói thuốc lá: yếu tố gây cơn hen phổ biến.

Môi trường ô nhiễm: Gia tăng bệnh nhân cũng như cơn hen hơn so với bình thường

Thức ăn: một số loại thức ăn (tôm, cua, cá, hải sản, thịt gà…) gây tăng khả năng xuất hiện triệu chứng HPQ.

Thuốc: vaccin, kháng sinh, aspirin

Sinh lý bệnh học và cơ chế bệnh sinh 

Cơ chế chính của HPQ là tình trạng viêm đường hô hấp mạn tính có sự tham gia của nhiều chất trung gian hóa học cũng như tế bào dẫn đến thay đổi về sinh lý bệnh (dẫn khí bị hẹp dẫn đến tăng tính phản ứng của phế quản)

Viêm mạn tính đường hô hấp 

Trong HPQ được khẳng định, vai trò của các tế bào và các chất trung gian hóa học trong viêm mạn tính đường hô hấp như sau:

  1. Vai trò của các tế bào trong HPQ

Tế bào mast ở niêm mạc đường hô hấp của người HPQ thể dị ứng có số lượng tăng cao gấp 3 – 5 lân ở người bình thường. Tê bào mast bị hoạt hoá bởi dị nguyên, ngay lập tức giải phóng ra các chât trung gian hoá học (histamin, leukotrien C4, D4, E4; prostaglandin D2; yếu tố hoạt hóa tiểu cầu – PAF) gây co thắt phế quản, thoát mạch làm phù nề thành phế quản.

Bạch cầu ải toan giải phóng các leukotrien và protein hạt cơ bản (basic granule protein) làm tổn thương tế bào niêm mạc phế quản, ngoài ra chúng còn giải phóng yếu tố tăng trưởng và tham gia vào quá trình thay đổi cấu trúc đường dẫn khí.

Lympho Th2 được hoạt hóa giải phóng ra các cytokin đặc hiệu (IL4, IL5, IL13) làm tập trung bạch cầu ái toan tại phế quản và kích thích lympho B tiết IgE.

Tế bào tua (Dendritic cell) trình diện dị nguyên làm hoạt hóa tế bào Th2

Đại thực bào phế nang có chức năng chính là thực bào, tiêu hóa vi khuân và các chất lạ khác, trong HPQ đại thực bào phế nang giải phóng các cytokin làm khuêch đại phàn ứng viêm.

Tế bào biểu mô phế quản có chức năng thanh thải chất nhầy và loại bỏ các chất độc hại; tuy nhiên chúng tăng cường phản ứng viêm mạn tính băng giải phóng ra các chất trung gian hóa học gây viêm (eicosanoid, peptidase, protein nền, cytokin, chemokin và nitric oxid) và các yếu tố tăng trưởng để sửa chữa các tổn thương do viêm để tái cấu trúc đường hô hấp. Trong HPQ, tính toàn vẹn của biểu mô đường hô hấp bị tổn thương, thể hiện bằng hiện tượng bong các tế bào biểu mô, dẫn đến tăng tính phản ứng phế quản, giải phóng chemokin và chất thu hút bạch cầu ái toan, thay đổi tính thấm của niêm mạc đường hô hấp và mất các enzym phân hủy các neuropeptid gây viêm

Nguyên bào sợi (fibroblast) và các nguyên bào sợi cơ (myofibroblast) hoạt động như tế bào viêm khi được kích hoạt bởi IL-4 và IL-13. Nguyên bào sợi có thể góp phàn điều chỉnh quá trình viêm thông qua việc giải phóng các cytokin và tái tạo mô. Trong HPQ, các myofibroblast tăng số lượng dưới màng đáy dạng lưới và góp phần làm dày thành phế quản.

2. Vai trò của các chất trung gian hỏa học trong HPQ

Histamin được tế bào mast giải phóng gây co thắt phế quản, ngoài ra còn làm phù nề niêm mạc phế quản và tăng tiết nhầy.

Acid arachidonic và các chất chuyển hóa (các prostaglandin, các leukotrien và PAF) là chất chuyển hóa của phospholipid màng. Acid arachidonic chuyển hóa thành các prostaglandin nhờ cyclooxygenase, trong đó prostaglandin D2, prostaglandin F2« là

chất có khả năng gây co thắt phế quản, prostaglandin 12 gây tăng phản ứng phù nề do có tác dụng giãn mạch.

Các cysteinyl leukotrien (leukotrien C4, leukotrien D4, leukotrien E4) được chuyển hóa từ acid arachidonic nhờ 5-lipooxygenase trong quá trình viêm, làm co thắt phế quản, tăng tiết nhầy, tăng tính thấm mao mạch và phù nề niêm mạch phế quản; leukotrien B4 còn tham gia hóa ứng động các bạch cầu hạt.

Thromboxan A2 (do các đại thực bào phế nang, fibroblast, tế bào biểu mô phế quản, bạch cầu trung tính và tiểu cầu trong phổi tiết ra) gây co thắt phế quản, kéo dài tình trạng viêm và góp phần tăng tính phản ứng phế quản.

PAF (yếu tố hoạt hóa tiểu cầu) do các đại thực bào, bạch cầu ái toan, bạch cầu trung tính tiết ra, làm co thắt phế quản, tăng tính phản ứng phế quản và gây phù nề, hóa ứng động các bạch cầu ái toan.

Tình trạng viêm trong HPQ bị ức chế bởi corticosteroid ở hầu hết các bệnh nhân. Tuy nhiên, nếu ngừng dùng corticosteroid một thời gian thì các triệu chứng sẽ trở lại. Những bệnh nhân HPQ mức độ nặng có thể có kiểu viêm tương tự như trong COPD, đặc trưng bởi tình trạng giảm đáp ứng với corticosteroid.

3. Đường dẫn khỉ bị hẹp lại là hậu quả của tình trạng viêm mạn tính, dẫn tới các triệu chứng của HPQ.

TB ca trơn PQ: Phì đại và co thắt.

hen phế quản

Hình 2.3. Các tế bào viêm, tổn thương và thay đổi cấu trúc trong HPQ

(Nguồn: Goodman and Gilman’s The Pharmacological Basis of Therapeutics,

2018 và Pharmacotherapy IA Pathophysiologic Approach, 2020)

Các yếu tố làm cho đường dẫn khí bị hẹp lại:

  • Co thắt cơ trơn phế quản: do đáp ứng với sự kích thích của các chất trung gian hoá học và các chất dẫn truyền thần kinh.
  • Phù nề đường dẫn khí do tăng hiện tượng thoát mạch.
  • Chất nhầy gia tăng do hoạt động cung như tăng kích thước tuyến nhầy, tạo ra các nút nhầy ở phế quản
  • Thành của đường dẫn khí bị dày lên do sự thay đổi cấu trúc đường dẫn khí khiến người bị hen thường khó thở

Thay đổi cấu trúc đường dẫn khí

tình trạng viêm kéo dài và tái cấu trúc, dẫn tới thay đổi cấu trúc đường dẫn khí. Đường dẫn khí bị dày lên thể hiện bằng:

  • Lớp niêm mạc phế quản và tế bào xơ dưới niêm mạc bị dày lên
  • Cơ trơn phế quản bị tăng sinh và phì đại
  • Mạch máu và thoát mạch đều bị tăng sinh
  • Tuyến tiết nhầy bị tăng tiết và phì đại
Hình ảnh phế quản bị hen
Hình ảnh phế quản bị hen

Phế quản bình thường Phế quản bệnh nhân HPQ nhọ Phế quàn bệnh nhân HPQ trong cơn HPQ

Hình 2.4. Hình ảnh hẹp đường dẫn khí trong Hen phế quản
(Nguồn: www.myamericannurse.com)

Thay đổi cấu trúc đường dẫn khí khiến độ tắc nghẽn càng tăng và tăng tính phản ứng của phế quản, khiến bệnh nhân ngày càng đáp ứng kém hơn với điều trị.

Tăng tính phản ứng của phế quản

Liên quan của tình trạng viêm và sự tái cấu trúc đường dẫn khí, một số cơ chế gây tăng tính phản ứng phế quản như sau:

  • Tình trạng viêm càng nặng thì tính phản ứng của phế quản càng tăng.
  • Co thắt quá mức của cơ trơn phế quản do tế bào sợi cơ trơn phế quản phì đại và tăng tính co thắt.
  • Rối loạn điều hòa thần kinh: bộ phận nhận cảm thần kinh ở phế quản tăng nhạy cảm do tình trạng viêm, do đó tăng phản ứng co thắt phế quản khi có yếu tố kích thích.

Triệu chứng và chẩn đoán HPQ

Chẩn đoán HPQ chủ yếu dựa vào các triệu chứng và hỏi diễn biến bệnh sử, đo chức năng hô hấp và một số test chẩn đoán.

Triệu chứng lâm sàng

Tần suất và mức độ xuất hiện các triệu chứng HPQ khác nhau giữa các bệnh nhân và thay đổi tuỳ lúc trên cùng một bệnh nhân.

Điển hình là các cơn ho, khó thở đột ngột, tiếng thở rít, phổi ran rít, ran ngay hoặc bị nghẹn lồng ngực. Tuy nhiên một số bệnh nhân không có triệu chứng rõ rệt.

Các triệu chứng thường xuất hiện khi thay đổi thời tiết, thời tiết lạnh, vào ban đêm. Các triệu chứng xuất hiện hoặc nặng lên khi tiếp xúc với một trong các yêu tô: lông súc vật, chất hoá học bay hơi, bọ nhà, phân hoa, khói thuốc lá, thuốc (aspirin, thuốc chống viêm non-steroid), vận động mạnh, nhiễm trùng hoặc nhiễm virus đường hô hấp trên.

Khi có một trong các triệu chứng sau cần hướng tới bệnh HPQ:

  • Thở rít (thở có tiếng rít), nhất là ở trẻ em.
  • Đêm thường ho nhiều, khó thở thỉnh thoảng bị nghẹn lồng ngực.
  •  HPQ thường đến đột ngột và giảm đi khi dùng thuốc hen phế quản

Đo chức năng hô hấp

Các thông số chức năng hô hấp có giá trị trong chẩn đoán, đánh giá mức độ tắc nghẽn đường hô hấp, tính hồi phục của phế quản.

Các các chỉ số chức năng hô hấp có giá trị chẩn đoán HPQ như sau:

  • Tắc nghẽn đường dẫn khí: tỷ số FEV1/FVC < 75%
  • Test giãn phế quản dương tính: test giãn phế quản nhằm đánh giá tính hồi phục của phế quản: sau 10-15 phút hít 200 – 400 pg/mL salbutamol, kết quả dương tính khi FEV1 tăng > 12% và > 200 mL (đối với người lớn), > 12% (đối với trẻ em) so với FEV1 trước khi dùng thuốc.
  • Chức năng phổi được cải thiện đáng kể sau 4 tuần điều trị thử bằng thuốc chống viêm: FEV1 tăng > 12% và > 200 mL hoặc PEF >20% so với trước điều trị.
  • Chênh lệch quá mức chỉ số PEF trong ngày (theo dõi trong 2 tuần): giá trị trung bình PEF chênh lệch ngày – đêm > 10% (đối với người lớn) và >13% (đối với trẻ em).

Chỉ số PEF có giá trị theo dõi điều trị và đánh giá mức độ tắc nghẽn đường dẫn khí: cần xác định trị số tối đa chỉ số PEF của chính bệnh nhân lúc bình thường. Peak Flow Meter là dụng cụ đo PEF, đây là dụng cụ đơn giản, dễ sử dụng. Bệnh nhân sử dụng PEF tại nhà để theo dõi bệnh và tự đánh giá tình trạng HPQ, các trị số đo hàng ngày (buổi sáng và buổi tối vào 1 giờ nhất định) được ghi lại vào cuốn nhật ký PEF để theo dõi. Khi có chênh lệch cao trị số PEF ngày – đêm có giá trị chẩn đoán HPQ. Khi trị số PEF giảm đi thường biểu hiện nguy cơ xuất hiện triệu chứng hoặc cơn hen cấp. Mức độ tăc nghẽn đường dân khí được đánh giá băng tỷ lệ % trị sô PEF tại thời diêm đo so với trị số tối đa của bệnh nhân đo được lúc bình thường.

Một số test khác để chẩn đoán HPQ

Test thử thách vận động (excercise challenge test): dựa vào tính tăng phản ứng phế quản. Neu bệnh nhân vẫn có triệu chứng nghi ngờ HPQ nhưng chức năng hô hấp bình thường: đo chức năng hô hấp trước và sau khi chạy hoặc vận động thể lực, đánh giá bằng trị số FEV1 giảm đi > 10% và > 200 mL so với trước vận động (đối với người lớn), giảm đi > 12% so với chỉ số lý thuyết (đối với trẻ em).

Test thử thách phế quản (chỉ dùng cho người lớn): dựa vào tính tăng phản ứng phê quản. Nêu bệnh nhân vân có triệu chứng nghi ngờ HPQ nhưng chức năng hô hấp bình thường: đo chức năng hô hấp trước và sau khi hít methacholin hoặc histamin, đánh giá bàng trị số FEV1 giảm đi > 10% hoặc giảm > 200 mL so với trước khi hít thuốc.

Test da với dị nguyên hoặc định lượng IgE đặc hiệu trong huyết thanh: nhằm xác định yếu tố nguy cơ gây cơn hen của từng bệnh nhân.

Đo FeNO (Fractional Concentration of Exhaled Nitric Oxide – nồng độ NO trong khí thở ra) thường liên quan với tăng bạch câu ái toan trong máu và trong đờm ở bệnh nhân HPQ, nhưng chỉ so FeNO không đặc hiệu, vi có thể tăng trong một số bệnh lý dị ứng khác.

Chụp X-quang phổi

Có giá trị chẩn đoán phân biệt, loại trừ bệnh hô hấp khác. Ở bệnh nhân HPQ ngoài cơn hen câp hình ảnh X-quang phôi binh thường, trong cơn hen có thể thấy phổi sáng quá mức.

Biến chứng

Biến chứng cấp tính

  • Tràn khí màng phổi do vỡ phế nang dễ dẫn tới tử vong do suy hô hấp cấp.
  • Tràn khí trung thất và tràn khí dưới da.
  • Suy tim cấp hoặc hội chứng tim – phổi cấp.
  • Xẹp phân thuỳ phổi do lấp tắc khu trú một đoạn phế quản.
  • Tử vong là hậu quả của các biến chứng trên.

Biến chứng mạn tính

  • Biến dạng lồng ngực: xương ức tụt xuống hoặc nhô lên (ở trẻ em), lồng ngực hình thùng (ở người lớn).
  • Suy hô hấp mạn tính.
  • Tâm – phế mạn.

Đánh giá bệnh hen

Trước đây đánh giá HPQ theo mức độ nặng thường được sử dụng vì hữu ích trong đánh giá trình trạng bệnh của mỗi bệnh nhân. Hiện nay HPQ được đánh giá mức độ kiểm soát vì mức độ nặng của HPQ bao gồm cả mức độ đáp ứng điều trị. Trong thực tế mức độ nặng HPQ không cố định cho mỗi bệnh nhân mà thay đổi khác nhau từng tháng, từng năm. Đánh giá mức độ kiểm soát sẽ thiết thực hom, giúp cho lựa chọn mức điều trị phù hợp hơn với bệnh nhân.

Đánh giá tình trạng bệnh hen

Đánh giá tình trạng bệnh HPQ bao gồm:

(1) Đánh giá mức độ kiểm soát bệnh HPQ (xem chi tiết mục 4.2)

(2) Đánh giá vấn đề điều trị: các thuốc được chỉ định, các hướng dẫn điều trị cho bệnh nhân, thái độ và mục tiêu điều trị của bệnh nhân, tuân thủ điều trị, kỹ thuật dùng thuốc cùa bệnh nhân, các tác dụng không mong muốn do thuốc gây ra

(3) Đánh giá các bệnh mắc kèm: viêm mũi, viêm mũi xoang, trào ngược dạ dày I thực quản, béo phì, tắc nghẽn đường thở khi ngủ, trầm cảm hoặc lo lắng,… góp phần làm kiểm soát HPQ kém.

Đánh giá mức độ kiểm soát bệnh hen

Bảng 2.2. Đánh giả mức độ kiểm soát bệnh hen phế quản (GINA, 2021)

Triệu chứng đánh giá Trong 4 tuần vừa qua Mức độ kỉểm soát HPQ
Kiểm soát hoàn toàn Kiểm soát một phần Không kiểm soát
Triệu chứng xuất hiện ban ngày (> 2 lần/tuần) Có □ Không □
Triệu chứng xuất hiện ban đêm làm thức giấc Có □ Không □ Không cỏ Có 1-2 Có 3-4
Cần phải sử dụng thuốc giảm triệu chứng hen (£ 2 lần/tuằn) Có □ Không □ triệu chứng triệu chứng
Hạn chế hoạt động ở mức độ bất kỳ dò hen Có □ Không □

Đánh giá các yếu tế nguy cơ làm bệnh HPQ nặng hơn

Các yếu tố gây cơn kịch phát có thể thay đổi được

Sử dụng thuốc điều trị HPQ:

  • Sử dụng SABA nhiều (liên quan đến nguy cơ đợt HPQ cấp và nguy cơ tử vong tăng nếu sử dụng > 1 lọ (200 liều)/tháng).
  • Sử dụng ICS không phù họp: không chỉ định ICS; không tuân thủ; kỹ thuật hít không đúng.

Các tình trang bệnh tật khác: béo phì, viêm mũi xoang mạn tính, trào ngược dạ dày – thực quản, dị ứng thức ăn, mang thai.

Chức năng hô hấp: FEV1 thấp, đặc biệt nếu <60% chỉ số lý thuyết

Hoàn cảnh xã hội: có các vấn đề nghiêm trọng về tâm lý hoặc đời sống – kinh tế.

Phơi nhiễm: hút thuốc lá; tiếp xúc với dị nguyên nhạy cảm, ô nhiễm môi trường.

Các dấu hiệu khác:

  • Tăng bạch cầu ái toan trong đờm và máu.
  • Tăng FENO (ở người lớn HPQ dị ứng đang dùng ICS).

Yếu tể nguy cơ độc lập quan trọng khác của đợt kịch phát gồm

  • Đã đặt nội khí quản hoặc phải vào hồi sức tích cực vì hen.
  • Có >1 đợt kịch phát nặng trong 12 tháng qua.

Yếu tố nguy cơ phát triển tắc nghẽn đường hô hấp không hồi phục

  • Tiền sử: sinh non, sinh nhẹ cân và cân nặng tăng nhanh ở trẻ nhỏ; tăng tiết nhầy mạn tính.
  • Không điều trị ICS/điều trị không phù họrp ở bệnh nhân có đợt HPQ cấp nặng.
  • Tiếp xúc: khói thuốc lá, các hóa chất độc hại, bụi và hóa chất nghề nghiệp.
  • FEV1 ban đầu thấp, tăng bạch cầu ái toan trong đờm hoặc máu.

Yếu tố nguy cơ tác dụng không mong muốn của thuốc

  • Dùng thuốc đường toàn thân: uống ocs thượng xuyên, dùng ICS liều cao kéo dài, dùng các thuốc ức chế P450.
  • Dùng thuốc tại chỗ: ICS liều cao; kỹ thuật hít thuốc kém.

Điều trị

Mục tiêu đỉều trị và nguyên tắc đỉều tri

Mục tiêu điều trị: điều trị HPQ nhằm đạt các mục tiêu sau:

  • Điều trị kịp thời các cơn hen cấp và đợt hen cấp.
  • Dự phòng cơn hen để số cơn hen xảy ra ít nhất.
  • Duy trì chức năng hô hấp bình thường hoặc tối ưu.
  • Đảm bảo chất lượng cuộc sống: sinh hoạt bình thường về tinh thần và thể chất.
  • Dự phòng tắc nghẽn phổi không hồi phục và hạn chế tử vong.

Nguyên tắc điều trị HPQ:

  • Ưu tiên sử dụng các thuốc dạng hít để hạn chế tác dụng phụ của thuốc khi phải dùng lâu dài.
  • Giáo dục bệnh nhân hiểu biết về bệnh hen và điều quan trọng là phải hướng dẫn bệnh nhân cách hít thuốc cho đúng.
  • Kiểm soát môi trường để tránh các yếu tố kích thích khởi phát cơn hen.

Đỉều chỉnh đỉều trị hen dựa trên sự kiểm soát

Điều trị hen được điều chỉnh theo một chu trình liên lục để đánh giá, điều chỉnh việc điều trị và xem xét sự đáp ứng. Các thành tố chính của chu trình này trình bày ở Hình 2.5.

Mô tả chu trình

Hình 2.5. Chu trình xử trí hen dựa trên sự kiểm soát (Nguồn: GI NA, 2021)

Kiểm soát triệu chứng và các yếu tố nguy cơ có thề thay đồi được (bao gồm chức năng hô hấp)

Các bệnh mắc kèm

Kỹ thuật dùng thuốc dạng hít và tuân thủ “ ig muốn và mục tiêu điều trị của bệnh nhâni

Điều trị các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi

được và các bệnh mặc kèm

Các phương pháp không dùng thuốc

Các thuốc điều trị HPQ

(điều chỉnh tăng/giảm/khoảng đưa liều)

Giáo dục và Hướng dẫn kỹ năng

Thuốc điều trị HPQ

Các thuốc điều trị HPQ

Trên lâm sàng, các thuốc điều trị HPQ được chia làm 2 loại: thuốc kiểm soát bệnh HPQ lâu dài và thuốc điều trị giảm triệu chứng.

Thuốc điều trị HPQ sử dụng hàng ngày lâu dài giúp giảm được tình trạng viêm, kiểm soát được triệu chứng khi cần gấp.

Thuốc kiểm soát HPQ thường dùng nhất là glucocorticosteroid dạng hít, liều dùng ban đầu tuỳ từng bệnh nhân và giảm liều dần. Glucocorticosteroid dạng uống và tiêm tĩnh mạch được chỉ định trong điều trị cơn hen nặng hoặc trong đợt cấp.

Khi có cơn hen cần phải sử dụng thuốc ngay để giảm triệu chứng kịp thời.

Ngoài thuốc, một số trường họp như người già, trẻ nhỏ có thể cần dùng dụng cụ phối hợp như buồng đệm để tăng hiệu quả việc dùng thuốc dạng hít.

Về mặt dược lý, điều trị HPQ bằng các thuốc giãn phế quản và thuốc chống viêm được tóm tắt trong Bảng 2.3.

Bảng 2.3. Các thuốc điều trị HPQ

Nhóm thuốc/hoạt chất Dạng bào chế Tác dụng
1. Thuốc giãn phế quản
Thuốc cường P2 adrenergic (P2agonist) tác dụng ngắn (SABA) Albuterol (salbutamol)

Levalbuterol

Metaproterenol

Terbutalin

Pirbuterol

Fenoterol

Tulobuterol

Rimiterol

Dạng hít định liều (ưu tiên sử dụng) dạng khí dung dạng uống dạng tiêm Tác dụng giãn cơ trơn phế

quản nhanh” ngắn

Cắt cơn hen/ giảm triệu chứng

Thuốc p2- agonist

tác dụng dài (LABA)

Formoterol

Salmeterol

Aríormoterol

Indacaterol

Olodaterol

Dạng hít (phối hợp với ICS) Tác dụng giãn cơ trơn phế quản kéo dài

Điều trị kiểm soát bệnh HPQ

Methylxanthin Theophylln Dạng uống Tác dụng giãn cơ trơn phê quản nhành” ngắn Cắt cơn hen nặng không đáp ứng với 32- agonist
Aminophylin Dạng tiêm
Thuốc kháng muscarinic Ipratropium bromid Dạng hít tác dụng nlianh (SAMA) Tác dụng giãn cơ trơn phế quản nhanhT ngắn Cắt cơn hen
Tiotropium bromid Glycopyrrolat Umeclidinium bromid Aclidinum bromid Dang hít tác dung keo dài (LAMA) Tác dụng giãn cơ trơn phế quản kéo dài
2. Thuốc chống viêm
Corticosteroid dạng hít (ICS) Fluticasone propionat Beclomethason dipropionat Budesonid Cỉclesonid Dang hít định liều (ICS) Chống viêm

Điều trị kiềm soát bệnh HPQ

Corticosteroid tác dụng toàn thân Prednisolon

Hydrocortison

Methylprednisolon

Dạng uống (OCS) Dạng tiêm Điều trị đợt cấp HPQ dùng cho HPQ nặng
Dạng phối hợp ICS/p2- agonist Fluticason proplonat/ salmeterol

Budesonid/formoterol Fluticasone furoat/ vilanterol

Dạng hít (ICS/LABA) Điều trị kiểm soát HPQ (ICS/formoterol liều thấp có thề dùng để cắt cơn hen khl cần)
Thuốc đối khánq leukotrien
Thuốc ức chế 5- lipoxygenase Zileuton Dạng uống Chống viêm kém hiệu quà hơn ICS
Thuốc đối kháng cys-LT 1 Montelukast

Zafirlukast

Pranlukast

Thuốc điểu hòa miễn dịch
Thuốc kháng IgE (anti-lgE) Omalizumab Tiêm dưới da Chống viêm, dùng cho HPQ nặng khó kiểm soát, không đáp ứng với ICS.

Dùng cho HPQ tăng bạch cầu ái toan thể trung bình – nặng phụ thuộc ocs

Kháng IL5 (anti-ỈL5/R5) Mepolizumab reslizumab benzalizumab
Kháng IL4 (anti-IL4/R4) Dupilumab

Lựa chọn thuốc HPQ theo bậc điểu trị

Trên cơ sở mức độ kiểm soát HPQ, lựa chọn thuốc theo các bậc điều trị (Bảng 2.4).

Bảng 2.4. Các bậc điều trị cụ thể (GINA 2021)

1. Lựa chọn ưu tiên ■ •
Thuốc Bậc 1 • Bậc 2 Bậc 3 Bậc 4 Bậc 5
Triệu

chứng

Có triệu chứng < 5 ngày/tuần Triệu chứng hàng ngày hoặc thức gỉẩc vl cơn hen > 1 lần/tuần Triệu chứng hàng ngày hoặc thức giấc vỉ cơn hen £ 1 lần/tuần CNHH thấp Cần dùng ocs đợt ngắn,

HPQ nặng không kiểm soát • —

Thuốc

kiểm

soát (ưu tiên)

ICS – formoterol liều thấp khi cần thiết ICS – formoterol liều thấp ICS – formoterol liều trung bình Thêm LAMA cân nhắc +

anti IgE, anti- IL4/4R, anti-IL5/5R ICS – formoterol liều cao

Thuốc cắt cơn hen ICS – formoterol liều thấp (khi cần thiết cắt cơn hen)
2. Lựa chọn thay thế
Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Bậc 4 Bậc 5
Triệu

chứng

<2 lần /tháng > 2/tháng và <5 lằn/tuần Hàng ngày hoặc thức giac vì cơn hen > 1 lần/tuần Hàng ngày hoặc thức giac vì cơn hen > 1 lần/tuần CNHH thấp Cần dùng ocs đợt ngắn, HPQ nặng không kiểm soát
Thuốc

kiểm

soát

ICS phối hựp khi dùng SABA ICS liều thấp hàng ngày ICS-LABA liều thấp hàng ngày ICS-LABA liều trung bình/

liều cao hàng ngày

Thêm LAMA

cân nhắc +anti IgE

anti-IL4/4R,

antỉ-IL5/5R

ICS – LABA liều cao

Thuốc cắt cơn hen p2-agonist dạng hít tác dụng ngắn (SABA) khi cần cắt cơn hen

ICS – Corticosteroid dạng hít                           

OCS – Corticosteroid dạng uống

LAMA – kháng muscarinic tác dụng kéo dài   

LABA beta2– agonist tác dụng kéo dài

SABA beta2- agonist tác dụng ngắn     

anti IgE – Thuốc kháng IgE   

anti-IL4/4R – Thuốc kháng lnterleukỉn-4

CNHH – Chức năng hô hấp

Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here