DA NHỜN: ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC LỰA CHỌN ĐIỀU TRỊ

Tác giả: Dawnielle C. Endly, DO and Richard A. Miller, DO, dịch bởi bác sĩ Trần Phương Tường Vy.

TÓM LƯỢT

Một trong những mối quan tâm về da liễu phổ biến nhất là da dầu, và nhu cầu về các lựa chọn điều trị hiệu quả ngày càng rõ ràng. Bài viết đánh giá này đề cập đến nhiều lựa chọn điều trị tại chỗ như retinoids, olumacostat glasaretil, và các dược mỹ phẩm khác. Một số liệu pháp toàn thân và thủ thuật như isotretinoin, spironolactone, thuốc tránh thai, botulinum toxin, liệu pháp quang động và laser cũng được xem xét. Mỗi lựa chọn điều trị được phân tích về cơ chế hoạt động được đề xuất, hiệu quả được báo cáo trong y văn và các tác dụng phụ tiềm ẩn.

Từ khóa: Da nhờn, tiết bã nhờn, sản xuất bã nhờn, retinoids tại chỗ, olumacostat glasaretil, niacinamide, trà xanh, L-carnitine, isotretinoin, spironolactone, thuốc tránh thai, botulinum toxin, liệu pháp quang động học, laser diode.

DA DẦU là một mối quan tâm về bệnh lý thường gặp mà tất cả bệnh nhân nhắn đến, bao gồm cả những người không có mụn trứng cá, do mối liên quan của nó với lỗ chân lông lớn trên khuôn mặt và vẻ ngoài “không sạch” hoặc “nhờn” (Hình 1). Thậm chí, một tìm kiếm nhanh trên Amazon.com về “điều trị da nhờn” cho thấy 9.907 sản phẩm hướng đến việc điều trị vấn đề này. Mức giá cho các sản phẩm này chỉ từ vài đô la đến gần 1.000 đô la mỗi sản phẩm. Một sản phẩm giá ở phân khúc cao về tuyên bố là “chất lỏng chống lão hóa kết hợp công nghệ hiện đại với kiến thức truyền thống về các thành phần nhằm điều trị da nhờn hoặc bị mụn trứng cá”. Bất kể người tiêu dùng có tin những tuyên bố này hay không, viễn cảnh này làm sáng tỏ nhu cầu về một phương pháp điều trị hiệu quả cho da nhờn.

Thật không may, tại sao một số người sản xuất bã nhờn quá mức trong khi những người khác chịu đựng làn da khô vẫn khó giải thích. Nhiều yếu tố đã được đề xuất trong vai trò trong bệnh sinh của da nhờn. Vì vậy, xác định chính xác một phương pháp điều trị thành công là một thách thức. Ở đây, chúng tôi xem xét sinh lý học của các tuyến bã nhờn cũng như các lựa chọn điều trị hiện tại và sắp tới có thể được cung cấp cho những bệnh nhân lo lắng vì da nhờn. Lưu ý, các sản phẩm không kê đơn cụ thể không được đánh giá riêng lẻ do thiếu dữ liệu khách quan. Thay vào đó, các thành phần hoạt tính riêng lẻ được thảo luận một cách công bằng.

da dầu

GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ HỌC TUYẾN BÃ

Ngoài các tuyến bã nhờn tự do vùng vermilion lips của hội (hạt Fordyce), mí mắt (tuyến meibomian), quầng vú (các nốt sần Montgomery), và môi bé và bao quy đầu (tuyến Tyson), ống dẫn của tuyến bã nhờn đổ thông với phễu nang lông. Các tuyến này tập trung nhiều ở phía sau tai và trên mặt, ngực trên và lưng, vùng phân bố giống như mụn trứng cá. Các tế bào chính tạo nên các tuyến bã nhờn là tế bào sebocytes, và các tế bào này tự vỡ và giải phóng bã nhờn qua bài tiết toàn hủy. Bã nhờn là một chất lỏng nhớt bao gồm squalene, wax este, triglycerides, axit béo tự do, este cholesterol và sterols tự do.

Lượng bã nhờn sản xuất của một người thay đổi trong suốt cuộc đời của họ. Các tuyến bã nhờn được hình thành ngay từ khi mới sinh và sản sinh ra lượng bã nhờn tương đối cao vào thời điểm này. Ngay sau khi sinh, sản xuất bã nhờn giảm dần cho đến tuổi dậy thì, lúc đó nó tăng lên đáng kể. Sản xuất bã nhờn không giảm trở lại cho đến sau khi mãn kinh đối với phụ nữ và khoảng tuổi từ 60 đến 70 trở đi đối với nam giới. Androgen, đặc biệt là 5α-dihydrotestosterone (DHT), đóng một vai trò quan trọng trong sự biệt hóa và tăng sinh của các tuyến bã nhờn cũng như sản xuất bã nhờn. Tốc độ sản xuất bã nhờn trung bình ở người lớn là 1mg / 10cm2 mỗi ba tiếng. Khi tỷ lệ này dưới 0,5mg / 10cm2 sau ba tiếng, bệnh nhân có thể bị bệnh khô da. Ngược lại, khi sản xuất bã nhờn vượt quá 1,5mg / 10cm2 sau mỗi ba tiến, nó được coi là quá mức và dẫn đến tăng tiết bã nhờn hoặc da nhờn.

Tỷ lệ sản xuất bã nhờn giữa các cá nhân khác nhau rất khác nhau, và lời giải thích tại sao điều này vẫn chưa được làm sáng tỏ đầy đủ. Một số yếu tố đã được mô tả và có thể được dùng để giúp giải thích cho một số bệnh nhân tại sao da của họ lại nhờn hơn những người khác (Bảng 1). Đàn ông nói chung có lượng bã nhờn cao hơn do mức testosterone cao hơn, mặc dù sản xuất bã nhờn tăng lên trong thời kỳ rụng trứng ở phụ nữ, có thể là thứ phát do tăng progesterone. Bã nhờn cũng thay đổi tùy theo môi trường và thời điểm trong năm. Một số nghiên cứu đã mô tả sự gia tăng sản xuất bã nhờn trong suốt mùa xuân và mùa hè và ở những vùng khí hậu ẩm ướt hơn. Nhìn chung, về chủng tộc, phụ nữ Trung Quốc có kích thước lỗ chân lông nhỏ hơn và mật độ thấp hơn trong khi những người da đen có kích thước lỗ chân lông to hơn có thể được cho là do tỷ lệ sản xuất bã nhờn cao hơn.

BẢNG 1. Các yếu tố nguy cơ đối với da nhờn:

  • Giới tính nam.
  • Phụ nữ tiền mãn kinh trong thời kỳ rụng trứng.
  • Mùa xuân hoặc mùa hè.
  • Khí hậu ẩm ướt.
  • Người Mỹ gốc Phi.
  • Tình trạng tăng nội tiết tố androgen (tăng sản thượng thận bẩm sinh, khối u tiết androgen của buồng trứng hoặc tuyến thượng thận).

Mặc dù có quan điểm bi quan về vai trò của tuyến bã nhờn đối với da dầu, nhưng chúng thực sự đóng một vai trò quan trọng đối với sức khỏe của làn da. Các tuyến bã nhờn thể hiện chức năng nội tiết (đặc biệt là tổng hợp androgen), cấu tạo nên lớp vỏ ngoài của thai nhi và đóng một vai trò quan trọng trong hàng rào biểu bì và khả năng miễn dịch bẩm sinh. Sau đây, chúng tôi xem xét các lựa chọn điều trị hiện tại và sắp tới có thể được sử dụng để giúp những bệnh nhân có da nhờn.

CÁC THUỐC BÔI TẠI CHỖ CHO DA NHỜN

Retinoids. Họ retinoid bôi tại chỗ bao gồm vitamin A (retinol); các dẫn xuất tự nhiên của nó như retinaldehyde, acid retinoic, và các este retinyl; và một số dẫn xuất vitamin A tổng hợp như adapalene và tazarotene. Tác động của chúng trên da được trung gian bởi sự tương tác của chúng với các thụ thể axit nucleic cụ thể. Trong da người, họ thụ thể axit retinoic nhân (RAR) bao gồm ba dạng: RAR-a, RAR-β và RAR-γ. Một RAR sẽ hợp tác với một thụ thể retinoid X (RXR) và tạo ra một heterodimer. RAR-γ chiếm khoảng 90% RAR trong lớp biểu bì và RXR-a chiếm khoảng 90% RXR. Do đó, da người chủ yếu được điều chỉnh bởi các heterodimers được ghép đôi bao gồm RAR-γ và RXR-a. Các heterodimers này tiếp tục liên kết với một khu vực cụ thể trong axit deoxyribonucleic (DNA) được gọi là các yếu tố phản ứng axit retinoic (RARE). Sau khi liên kết, quá trình phiên mã của các gen mã hóa protein cần thiết cho việc sửa chữa da bị tổn thương do ánh sáng, tăng trưởng và biệt hóa các tế bào sừng, các hoạt động chống viêm và ức chế sản xuất bã nhờn diễn ra.

Ngay từ những năm 1970, việc sử dụng retinoid tại chỗ cho các bệnh da khác nhau, đặc biệt là mụn trứng cá, bắt đầu được báo cáo ngày càng nhiều. Trong khi vai trò của retinoid trong sự phát triển và biệt hóa tế bào sừng đã được công nhận rộng rãi trong vài thập kỷ, ảnh hưởng của chúng đối với sinh học chức năng của tế bào huyết thanh ngày nay được biết đến nhiều hơn. Các thụ thể retinoid RAR-a, RAR-γ và RXR-a, β, và γ đều đã được xác định trong tế bào bã nhờn của người. Trong ống nghiệm, retinoid đã được phát hiện làm giảm đáng kể sự tăng sinh, biệt hóa của tế bào bã nhờn và tổng hợp bã nhờn.

Các nghiên cứu in vivo và kinh nghiệm lâm sàng với retinoids tại chỗ đã cho thấy tác dụng phụ thường gặp của da khô, nhưng vẫn thiếu bằng chứng trực tiếp về việc giảm sản lượng bã nhờn. Có lẽ, da khô là kết quả của quá trình bình thường hóa quá trình biệt hóa và tăng sinh của tế bào sừng và làm lỏng độ kết dính của chúng với nhau, do đó dẫn đến da bong tróc. Người ta cũng có thể suy đoán rằng một loại retinoid bôi tại chỗ cũng sẽ liên kết với các thụ thể retinoid của tế bào bã nhờn, dẫn đến giảm sản xuất bã nhờn, nhưng bằng chứng vẫn chưa chứng minh rõ ràng rằng retinoid bôi tại chỗ có tác dụng ức chế bã nhờn.

Cả tazarotene và tretinoin đều được ghi nhận là làm giảm kích thước lỗ chân lông trên khuôn mặt. Điều này có ý nghĩa quan trọng ở chỗ lỗ chân lông to hơn có mối quan hệ trực tiếp với lượng bã nhờn tiết ra lớn hơn. Kang và cộng sự đã báo cáo rằng 42% đối tượng được điều trị bằng tazarotene một lần mỗi ngày trong 24 tuần đã giảm được kích thước lỗ chân lông theo nghiên cứu mù đôi, thang điểm lâm sàng 5. Điều này có ý nghĩa so với chỉ giảm 20% kích thước lỗ chân lông ở những người dùng giả dược. Một nghiên cứu khác cho thấy kích thước lỗ chân lông giảm đáng kể thông qua dermoscopic sau khi 60 phụ nữ bôi kem tretinoin 0,025% mỗi ngày một lần trong 90 ngày. Mặc dù mối quan hệ trực tiếp giữa kích thước lỗ chân lông và sản xuất bã nhờn khiến điều này trở nên thú vị, nhưng người ta không thể kết luận rằng retinoids tại chỗ giảm sản xuất bã nhờn do các nghiên cứu đã không xác định rõ ràng mối liên quan này. Tuy nhiên, các bằng chứng và thảo luận ở trên làm cho retinoids tại chỗ trở thành một sản phẩm đáng cân nhắc để điều trị da nhờn.

Olumacostat glasaretil (DRM01). Dermira, một công ty dược phẩm sinh học, gần đây đã công bố dữ liệu đầy hy vọng từ một thử nghiệm Giai đoạn 2b được thực hiện đối với chất ức chế sản xuất bã nhờn tại chỗ, olumacostat glasaretil (OG, trước đây là DRM01). Phân tử nhỏ mới này hoạt động bằng cách ức chế acetyl coenzyme-A carboxylase (Hình 2) . Enzyme này xúc tác bước giới hạn tốc độ đầu tiên trong quá trình tổng hợp axit béo. Triglyceridesvà axit béo cùng nhau tạo nên phần lớn nhất của chất bã nhờn; do đó, OG có khả năng làm giảm sản lượng bã nhờn. Hơn nữa, khi được đánh giá trên các mô hình động vật, OG tại chỗ liên tục làm giảm kích thước tuyến bã nhờn.

(OG)

Olumacostat glasaretil (OG) chặn acetyl coenzyme-A carboxylase trong tế bào bã nhờn để ức chế sản xuất axit béo tự do (FFA).

Mặc dù phân tử này được “thiết kế để ức chế sản xuất bã nhờn sau khi thoa tại chỗ”, theo trang web của Dermira, không có tiêu chí chính cho các thử nghiệm đánh giá trực tiếp sản lượng bã nhờn hoặc sự xuất hiện của da dầu. Thay vào đó, các điểm cuối chính chỉ liên quan đến số lượng tổn thương do mụn trứng cá. Các thử nghiệm Giai đoạn 2a và 2b cho thấy giảm đáng kể số lượng tổn thương mụn viêm và không viêm sau 12 tuần dùng OG tại chỗ ở cả 7,5% hai lần mỗi ngày và 4,0% một lần mỗi ngày. OG tại chỗ được báo cáo dung nạp tốt mà không liên quan đến các tác dụng phụ nghiêm trọng và có thể là một chất bôi ngoài da sắp tới để điều trị da nhờn. Các nghiên cứu sâu hơn được đảm bảo để đánh giá trực tiếp xem liệu OG tại chỗ có ảnh hưởng đáng kể đến việc sản xuất bã nhờn hay không.

Dược mỹ phẩm. Nhiều dược mỹ phẩm và thành phần thẩm mỹ đưa ra tuyên bố rằng việc sử dụng chúng sẽ làm giảm nhờn trên da, nhưng cuộc thảo luận này sẽ chỉ giới hạn ở các thành phần dựa trên bằng chứng. Draelos và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng với giả dược trên 100 đối tượng cho thấy niacinamide 2% tại chỗ làm giảm đáng kể tỷ lệ bài tiết bã nhờn sau hai và bốn tuần sử dụng. Mặc dù niacinamide tại chỗ có thể hữu ích cho những người có da nhờn, nhưng vẫn cần phải có các nghiên cứu sâu hơn để phác thảo cơ chế hoạt động và phác đồ điều trị lý tưởng.

Một thành phần thẩm mỹ khác với một số bằng chứng đằng sau ứng dụng của nó cho da nhờn là trà xanh. Một nghiên cứu nhỏ có 10 bệnh nhân áp dụng nhũ tương trà xanh 3% trong tám tuần. Khi da mặt được đánh giá bằng sebumeter (một thiết bị đo quang không xâm lấn), có sự giảm sản xuất bã nhờn đáng kể so với ban đầu. Một nghiên cứu lớn hơn một chút với 22 người tham gia cũng cho thấy sự giảm tiết bã nhờn đáng kể sau 60 ngày dùng thuốc bôi nhũ tương trà xanh. Các loại mỹ phẩm bôi ngoài da có chứa trà xanh có thể có lợi cho những bệnh nhân có da nhờn.

L-carnitine cũng ngày càng trở nên phổ biến trong cuộc thảo luận về các thành phần tiềm năng có thể làm giảm sự xuất hiện của da nhờn. Được sản xuất tự nhiên trong cơ thể, L-carnitine có chức năng tăng cường quá trình oxy hóa β, quá trình dị hóa mà các axit béo bị phân hủy. L-carnitine 2% dùng tại chỗ đã được chứng minh là làm giảm đáng kể hàm lượng axit béo nội bào trong tế bào bã nhơn của người và dẫn đến giảm bã nhờn đáng kể. Trong khi các nghiên cứu sâu hơn đánh giá hiệu quả của các đặc tính ức chế bã nhờn của L-carnitine được đảm bảo, nó là một thành phần hợp lý để giới thiệu cho những bệnh nhân lo lắng về da dầu.

ĐIỀU TRỊ TOÀN THÂN CHO DA DẦU

Isotretinoin.

Còn được gọi là axit retinoic 13 cis, isotretinoin là một loại retinoid dạng uống đã được chứng minh là giúp giảm bã nhờn nhiều nhất trong số tất cả các lựa chọn điều trị được đề cập khác. Như đã mô tả ở trên trong phần thảo luận về retinoid tại chỗ, axit retinoic 13-cis đã cũng đã được chứng minh là làm giảm kích thước và sự bài tiết của các tuyến bã nhờn. Sản xuất bã nhờn giảm 90% trong khi điều trị bằng isotretinoin đường uống và mang lại sự lạc quan cần thiết cho những bệnh nhân bị tăng tiết bã nhờn nghiêm trọng.

Một năm sau khi hoàn thành liệu pháp isotretinoin, tốc độ bài tiết bã nhờn vẫn bị kìm hãm đáng kể đối với hầu hết mọi người. Liều lượng isotretinoin thấp hơn (<0,5mg / kg / ngày) thường được sử dụng khi điều trị da nhờn đơn thuần mà không có nang nốt mụn trứng cá , nhưng liều thấp hơn này rõ ràng có liên quan đến tỷ lệ tái phát cao hơn. Nhìn chung, có đến 17 phần trăm bệnh nhân sẽ yêu cầu đợt thứ hai của isotretinoin uống mặc dù đã đạt được liều tích lũy được khuyến cáo từ 120 đến 150mg / kg.

Bất kể mức độ nghiêm trọng của da nhờn, tất cả bệnh nhân nên được nhắc nhở rằng sự giảm sản xuất bã nhờn đáng kể này không thể không đi kèm với các tác dụng phụ. Thông thường, bệnh nhân sẽ bị khô da toàn thân, môi nứt nẻ, bệnh mắt đỏ và nhiễm trùng da thứ phát. Bác sĩ lâm sàng nên giáo dục bệnh nhân của họ và cung cấp các mẹo để giảm thiểu những tác dụng phụ phổ biến này.

Một cân nhắc chính cần thảo luận với bệnh nhân trước khi bắt đầu sử dụng isotretinoin đường uống là khả năng gây quái thai. Mối quan tâm này buộc phải sử dụng hệ thống iPLEDGE, một chương trình quản lý rủi ro dựa trên máy tính được thiết kế để giúp loại bỏ sự phơi nhiễm của thai nhi với isotretinoin, ngay cả khi đang sử dụng liều thấp để điều trị da nhờn. Để giúp ngăn ngừa nguy cơ bất lợi nghiêm trọng này, phụ nữ có quan hệ tình dục phải sử dụng hai hình thức tránh thai và xét nghiệm mang thai là bắt buộc đối với tất cả bệnh nhân nữ có khả năng sinh con ở thời điểm ban đầu và hàng tháng cho đến khi hoàn thành liệu pháp.

Spironolactone.

Trong khi thuốc lợi tiểu giữ kali này đã được sử dụng thường quy trong y học như một thuốc hạ huyết áp, nó ngày càng được các bác sĩ da liễu sử dụng để điều trị da nhờn, mụn trứng cá, rậm lông và rụng tóc nội tiết tố nam ở phụ nữ. Spironolactone đã được chứng minh trực tiếp giảm sản xuất bã nhờn khi dùng liều 50 đến 200mg mỗi ngày. Ngoài vai trò là chất đối kháng alderosterone, spironolactone còn có chức năng như một chất chẹn thụ thể androgen và chất ức chế 5a-reductase.Tế bào bã nhờn của người chứa 5a-reductase loại 1, chuyển đổi testosterone thành androgen mạnh 5a-dihydrotestosterone (DHT) .46 Androgen này đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra sự tăng sinh tế bào bã nhờn. Do đó, bằng cách ức chế sản xuất DHT và ngăn chặn testosterone và DHT liên kết với tế bào bã nhờn, spironolactone đã được chứng minh là có thể ức chế sự tăng sinh tế bào bã nhờn tùy thuộc vào liều lượng.

Trước khi bắt đầu sử dụng spironolactone cho bệnh nhân nữ da nhờn, cần phải giải quyết một số tác dụng phụ tiềm ẩn. Trong một nghiên cứu theo dõi kéo dài 8 năm, không có biến chứng nghiêm trọng tức thời hoặc lâu dài nào do spironolactone để điều trị mụn trứng cá được báo cáo. Vẫn còn, các tác dụng phụ nhẹ xuất hiện ở 59% đối tượng, trong đó kinh nguyệt không đều là một trong số nhiều nhất. Tăng kali máu thường được thảo luận như một mối lo ngại tiềm ẩn; tuy nhiên, một nghiên cứu hồi cứu trên 974 phụ nữ khỏe mạnh dùng spironolactone trị mụn cho thấy chỉ có 0,72% số đo kali huyết thanh là bất thường so với tỷ lệ tăng kali máu ban đầu là 0,76 %. Xem xét các kết quả này và các báo cáo tương tự khác, nhiều bác sĩ da liễu cho rằng việc theo dõi kali thường xuyên là không cần thiết đối với phụ nữ khỏe mạnh khi sử dụng spironolactone, nhưng cuối cùng, việc giám sát trong phòng thí nghiệm là tùy thuộc vào quyết định của mỗi nhà cung cấp. Vì spironolactone có tác dụng nội tiết, nên có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư phụ thuộc vào nội tiết tố, chẳng hạn như ung thư vú, buồng trứng hoặc nội mạc tử cung. Trái ngược với quan điểm này, một nhóm thuần tập lớn gồm hơn 74.000 bệnh nhân được điều trị bằng spironolactone không tìm thấy bằng chứng về việc tăng nguy cơ ung thư vú, buồng trứng hoặc nội mạc tử cung. Những kết quả này đã được hỗ trợ bởi một số nghiên cứu gần đây khác điều tra mối quan hệ tiềm ẩn giữa spironolactone và nguy cơ mắc các bệnh ung thư phụ thuộc vào nội tiết tố. Nói chung, spironolactone là một loại thuốc dùng toàn thân an toàn để xem xét cho những phụ nữ khỏe mạnh đang tìm cách điều trị da nhờn.

Thuốc uống tránh thai.

Thuốc tránh thai đường uống có lợi cho da nhờn vì chúng làm giảm nội tiết tố androgen ở buồng trứng và tuyến thượng thận, đồng thời làm tăng globulin liên kết hormone giới tính, hạn chế testosterone tự do. Như đã mô tả ở trên, nội tiết tố androgen kích thích tăng sinh tế bào huyết thanh và góp phần tăng tiết bã nhờn. Nói chung, estrogen đã được phát hiện có tác dụng ức chế hoạt động quá mức của tuyến bã nhờn trên cơ thể sống. Để tránh nguy cơ tăng sản nội mạc tử cung, hoặc thậm chí ung thư, có thể khiến estrogen không được sử dụng, nó phải được sử dụng kết hợp với một progestin.

Điều quan trọng là phải xem xét progestin nào trong thuốc tránh thai kết hợp, vì một số progestin có hoạt tính nội tiết tố androgen. Levonorgestrel, desogestrel, norgestimate, và norethindrone đáng chú ý là có hoạt tính androgen thấp nhất. một số progestin mới hơn, chẳng hạn như drospirenone hoặc cyproterone acetate, thậm chí đối kháng với các thụ thể androgen và hiển thị các đặc tính kháng nội tiết tố.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thuốc tránh thai thực sự làm giảm độ nhờn trên da mặt. Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi với 128 phụ nữ dùng kết hợp ethinyl estradiol / drospirenone hoặc kết hợp ethinyl estradiol / cyproterone acetate, cả hai chế phẩm đều làm giảm đáng kể sản xuất bã nhờn. Katz và cộng sự đã tìm thấy mức giảm tương đối 60% trong sản lượng bã nhờn trên má và giảm tương đối 30% sản lượng bã nhờn trên trán của 41 phụ nữ sau sáu chu kỳ sử dụng thuốc kết hợp ethinyl estradiol / desogestrel. Việc sử dụng cùng loại thuốc tránh thai kết hợp này cũng đã được chứng minh là có thể cải thiện làn da nhờn chỉ sau một chu kỳ điều trị.

Một cân nhắc quan trọng trước khi bắt đầu sử dụng thuốc tránh thai là nguy cơ huyết khối tĩnh mạch tăng lên. Các loại thuốc tránh thai mới hơn đã giảm liều estrogen trong một nỗ lực để loại bỏ nguy cơ này. Một số tác dụng phụ phổ biến hơn nhưng cũng chỉ thoáng qua của thuốc tránh thai bao gồm buồn nôn, căng ngực và chảy máu giữa kinh nguyệt. Sử dụng thuốc tránh thai kết hợp có chứa liều lượng thấp nhất của mỗi loại hormone có thể hạn chế hoặc thậm chí ngăn ngừa những tác dụng phụ thông thường này trong khi vẫn mang lại lợi ích cải thiện làn da.

CÁC CÁCH ĐIỀU TRỊ DA NHỜN KHÁC

Botulinum toxin.

Trong vài năm gần đây, một số nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả của độc tố botulinum trong việc điều trị da nhờn với những kết quả đầy hứa hẹn. Một trong những báo cáo đầu tiên trong tài liệu đề cập đến khả năng cải thiện độ nhờn của da của botulinum toxin xuất hiện vào năm 2008. Một nghiên cứu hồi cứu được thực hiện trong đó 20 đối tượng có da nhờn và lỗ chân lông to được đánh giá sau khi tiêm onabotulinum A toxin trong da vào khu vực chữ T. Một tháng sau khi điều trị, 17 trong số 20 đối tượng có sự cải thiện trên ảnh chụp về độ nhờn và kích thước lỗ chân lông và 17 trong số 20 đối tượng cũng ghi nhận sự cải thiện về sản xuất bã nhờn. Li và cộng sự sau đó đã thực hiện một nghiên cứu mù đôi, chia đôi khuôn mặt vào năm 20 cá nhân và nhận thấy sự giảm sản xuất bã nhờn rõ rệt ở phía được điều trị bằng botulinum. Một nghiên cứu tiền cứu quan trọng khác đánh giá 25 bệnh nhân có da nhờn được tiêm botulinum toxin trong da trán và cho thấy sản xuất bã nhờn trên một sebumeter thấp hơn đáng kể ở một tuần và một, hai và ba tháng sau khi tiêm. Ngoài ra, 91% đối tượng đã hài lòng với tiêm botulinum toxin trong da như một phương pháp điều trị cho da dầu của họ.

Về cơ chế hoạt động, độc tố botulinum phân cắt các protein tham gia vào quá trình kết hợp túi synap với màng sinh chất của đầu tận cùng sợi trục của nơron trước synap. Các túi này chứa acetylcholine, và botulinum toxin ngăn chặn việc giải phóng chất dẫn truyền thần kinh này vào khe tiếp hợp, nơi nó thường liên kết với thụ thể muscarinic trên tế bào sau khớp thần kinh. Trong các tuyến bã nhờn, cả tế bào sebocyte chưa trưởng thành và trưởng thành đều biểu hiện các thụ thể muscarinic acetylcholine rất quan trọng đối với sự biệt hóa tế bào và sản xuất bã nhờn.

Liệu pháp quang động học.

Liệu pháp quang động học (PDT) sau việc áp dụng axit δ-aminolevulinic (ALA) được một số người sử dụng để điều trị mụn trứng cá. ALA được ưu tiên hấp thụ bởi các đơn vị tuyến bã, và tế bào sebocytes chuyển hóa ALA thành protoporphyrin IX (PplX) nhạy cảm với ánh sáng. Khi tiếp xúc với ánh sáng ở liều lượng và bước sóng thích hợp, PplX tạo thành các gốc tự do gây độc tế bào dẫn đến phá hủy tế bào và chết theo tế bào của tế bào bã nhờn. Mặc dù có nhiều bằng chứng cho thấy sự cải thiện về mụn trứng cá, một số nghiên cứu đã không cho thấy sự giảm đáng kể sản lượng bã nhờn sau khi PDT với ALA. Tuy nhiên, một nghiên cứu hỗ trợ cho thấy rằng sự bài tiết bã nhờn thấp hơn vẫn tồn tại ngay cả 20 tuần sau nhiều lần PDT, nhưng không sau một liệu trình PDT duy nhất. Đánh giá mô học sau khi PDT cho thấy sự phá hủy tế bào sebocyte và 20 tuần sau đó cho thấy các tuyến bã nhờn nhỏ hơn. PDT có thể là một công cụ có giá trị để cung cấp cho những bệnh nhân lo lắng về da nhờn.

Lasers.

Có vô số loại laser trên thị trường có thể phù hợp với những bệnh nhân có da nhờn. Diode laser 1.450nm dường như là một trong những loại laser được nghiên cứu rộng rãi hơn cho mục đích này. Perez-Maldonado và cộng sự đã quan sát thấy tổng lượng bã nhờn thu được giảm 18% trong sáu tuần sau ba lần điều trị bằng laser diode 1.450nm. Một nghiên cứu khác cho thấy sự cải thiện đáng kể trong việc sản xuất bã nhờn ở 26 đối tượng sau bốn lần điều trị trên mặt bằng laser diode 1.450nm. Mặt khác, Laubach và cộng sự đã báo cáo rằng ba lần điều trị bằng laser diode 1.450nm không gây ra những thay đổi đáng kể trong việc bài tiết bã nhờn. . Diode laser không phải là phương pháp điều trị hiệu quả nhất trong số các lựa chọn điều trị đã được đánh giá, nhưng nó vẫn cung cấp một phương thức điều trị độc đáo để giải quyết tình trạng da dầu.

KẾT LUẬN

Da nhờn là một than phiền chính của bệnh nhân da liễu. Mặc dù các tuyến bã nhờn đóng một vai trò không thể thiếu trong chức năng của da, nhưng chúng lại gây phiền hà cho một số bệnh nhân khi bã nhờn được sản xuất quá mức.

Nhiều lựa chọn điều trị tồn tại để giúp chế ngự tốc độ bài tiết bã nhờn, nhưng vẫn chưa có sự nhất trí rõ ràng về phác đồ điều trị ưu tiên. Mỗi lựa chọn điều trị đều có những ưu điểm và nhược điểm vốn có của riêng nó mà cần được thảo luận với bệnh nhân trong thời gian dài và liệu pháp điều trị sau đó có thể được cá nhân hóa theo nhu cầu của từng bệnh nhân. Khi có thêm kiến thức về cơ chế bệnh sinh phức tạp đằng sau da nhờn, hy vọng sẽ có nhiều liệu pháp mới và nhắm trúng đích được phát triển để điều trị da nhờn một cách thỏa đáng hơn.

Tài liệu tham khảo:

J Clin Aesthet Dermatol. 2017 Aug; 10(8): 49–55. Published online 2017 Aug 1.

Ngày viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *