Đái tháo đường là gì? Các nhóm thuốc điều trị đái tháo đường type II

ảnh đại diện

Ngày nay, khi nhu cầu về thực phẩm có chứa đường càng tăng lên, kéo theo đó là các căn bệnh về đường huyết cũng xuất hiện ngày một phổ biến. Đái tháo đường type II là một trong số những bệnh về đường huyết thường gặp và nguy hiểm hiện nay. Trên thị trường, hiện đang có rất nhiều thuốc điều trị đái tháo đường type II. Vậy, ưu nhược điểm của từng nhóm thuốc này như thế nào? Chọn nhóm thuốc điều trị nào để đảm bảo an toàn, hiệu quả và tiết kiệm chi phí? Hãy cùng Nhà Thuốc Ngọc Anh tìm hiểu những thông tin về Các nhóm thuốc điều trị đái tháo đường type II ngay trong bài viết sau đây nhé.

Đái tháo đường là bệnh thường gặp hiện nay, nhất là đái tháo đường type II
Đái tháo đường là bệnh thường gặp hiện nay, nhất là đái tháo đường type II.

Tổng quan về đái tháo đường type II

Định nghĩa đái tháo đường

Theo hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) đã định nghĩa đái tháo đường như sau:

Đái tháo đường là một nhóm bệnh lý chuyển hóa, được đặc trưng bởi sự tăng đường huyết mạn tính do:

Sự khiếm khuyết trong việc tiết Insulin ( insulin tiết ra không đủ).

Khiếm khuyết tác dụng của Insulin (cơ thể không thể sử dụng insulin).

Hoặc phối hợp mắc cả hai tình trạng trên.

Việc tăng đường huyết mạn tính của bệnh lý đái tháo đường sẽ gây nên các tác hại lâu dài, rối loạn chức năng và suy yếu của nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là các mạch máu.

Các triệu chứng điển hình của đái tháo đường là do sự tăng glucose máu và uống nhiều, tiểu nhiều, khát nhiều, và gầy nhiều.

Biến chứng do đái tháo đường gây ra bao gồm các bệnh trên mạch máu, các bệnh ở thần kinh ngoại vi, bệnh về thận và các bệnh về nhiễm khuẩn.

Các triệu chứng và biến chứng của đái tháo đường
Các triệu chứng và biến chứng của đái tháo đường

Phân loại đái tháo đường

Đái tháo đường được phân loại thành 4 nhóm chính:

Đái tháo đường type I (phụ thuộc hoàn toàn vào insulin)

Đái tháo đường type II (không phụ thuộc insulin)

Đái tháo đường thai kỳ

Đái tháo đường nguyên phát

Trong đó, bệnh đái tháo đường type II hay con gọi là đái tháo đường không phụ thuộc insulin. Là hiện tượng mà tế bào beta của đảo tụy vẫn sản xuất được insulin trong cơ thể, nhưng sản xuất ra ít hoặc insulin được tiết ra không sử dụng được. Bệnh nhân mắc đái tháo đường type II không cần phải tiêm insulin ngoại sinh như đái tháo đường type I nhưng cần phải được điều trị bằng các nhóm thuốc hạ glucose huyết.

Cơ chế bệnh sinh của bệnh đái tháo đường type II

Thức ăn có chứa đường khi vào trong cơ thể sẽ được chuyển hóa thành

Glucose. Glucose sẽ hấp thu vào máu và từ máu sẽ đi đến các cơ quan đích để chuyển hóa thành năng lượng.

Insulin là một nội tiết tố do tế bào beta của tuyến tụy tiết ra. Hormon này đóng vai trò quan trọng trong điều hòa lượng đường huyết của cơ thể.

Cơ thể ở trạng thái bình thường, glucose trong máu sẽ theo máu đi đến các tế bào mô đích, nhiệm vụ của Insulin sẽ làm hạ đường máu giảm xuống khi lượng đường trong máu quá cao. Nhờ đó mà cơ thể vẫn được nạp đủ năng lượng cho hoạt động sống nhưng không bị lượng đường trong máu quá cao.

Ở người bệnh mắc đái tháo đường type II, hệ thống hormon insulin này không còn hoạt động bình thường nữa.

Tuyến tụy sản xuất ra không đủ insulin để dùng hoặc cơ thể không thể sử dụng insulin đúng mục đích . Insulin tiết không đủ vì bệnh nhân bị đề kháng với insulin.

Kháng insulin ở gan dẫn tới không có tác nhân nào ức chế gan sản xuất glucose.

Và kháng insulin ở ngoại vi làm giảm tiêu thụ glucose ở ngoại vi.

Lúc này, lượng đường không được theo máu vào trong các tế bào mà ở lại trong máu. Do đó, làm đường huyết tăng lên cao kể cả lúc đói và sau khi ăn xong gây ra bệnh đái tháo đường type II.

Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường type II

Đối tượng có yếu tố nguy cơ để chẩn đoán sớm bệnh đái tháo đường type II.

Có độ tuổi trên 45 và có một trong các yếu tố nguy cơ sau:

Chỉ số BMI ≥ 23

Chỉ số huyết áp trên 130/85 mmHg

Có người thân thế hệ cận kề trong gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường type II (bố, mẹ, anh, chị, em ruột).

Có tiền mắc hội chứng rối loạn chuyển hóa hay được chẩn đoán tiền đái tháo đường giảm dung nạp glucose huyết kể cả lúc đói).

Phụ nữ đã từng có tiền sử mắc đái tháo đường thai kỳ.

Người đang mắc hoặc tiền sử mắc rối loạn lipid máu ( đặc biệt khi chỉ số HDL =< 0,9 mmol/L và chỉ số Triglycerid => 2,2 mmol/l.

Phân loại các nhóm thuốc điều trị đái tháo đường type II

Dựa trên cơ chế bệnh sinh, thì trong điều bệnh đái tháo đường type I thì cần phải bắt buộc dùng insulin đường tiêm.

Đối với đái tháo đường type II là thường bắt gặp hơn hiện nay kể cả trẻ em, chiếm 90% tổng số bệnh nhân được thống kê là mắc đái tháo đường. Để kiểm soát bệnh lý này cần dùng các thuốc đái tháo đường type II mà chủ yếu là các thuốc có tác dụng làm giảm lượng đường máu.

Phân loại theo cơ chế tác động của các nhóm thuốc hạ đường huyết dùng trong điều trị đái tháo đường type II

So sánh các nhóm thuốc đái tháo đường type II theo ADA 2022.
So sánh các nhóm thuốc đái tháo đường type II theo ADA 2022.

Các thuốc làm tăng độ nhạy cảm của insulin tại mô sử dụng

Nhóm Biguanid

Nhóm Thiazolidinedione

Các nhóm thuốc kích thích tế bào beta đảo tụy tiết insulin

Nhóm Sulfonylurea

Nhóm Glinide (Meglitinides)

Thuốc đồng vận thụ thể GLP-1

Nhóm thuốc ức chế DPP4 (ức chế DiPeptidyl Peptidase 4)

Các nhóm thuốc ức chế hấp thu Glucose tại ruột

Nhóm thuốc ức chế enzym Alpha-glucosidase

Các nhóm thuốc tăng đào thải glucose qua nước tiểu

Nhóm ức chế kênh đồng vận chuyển SGLT2

Insulin

Các thuốc làm tăng độ nhạy cảm của insulin tại mô sử dụng

Nhóm thuốc Biguanid

Sơ lược về nhóm Biguanid

Nhóm Biguanid (bao gồm Phenformin, BuforminMetformin) là nhóm thuốc chống đái tháo đường có nguồn gốc từ hoa tử đinh hương Pháp (Galega officinalis) chúng rất giàu Guanidin.

Năm 1978, Phenformin và Buformin chính thức bị rút khỏi thị trường vì tăng tỷ lệ nhiễm toan lactic và tử vong do tim.

Năm 1995, Metformin được FDA chính thức chấp thuận và được sử dụng trên thị trường Hoa Kỳ.

Đến nay, chỉ còn Metformin là thuốc duy nhất trong nhóm Biguanid còn được sử dụng rộng rãi và trở thành thuốc đầu tay cho điều trị đái tháo đường type II.

Cơ chế hoạt động

Metformin có cơ chế tác động rất khác biệt so với các nhóm thuốc điều trị đái tháo đường đường uống khác. Theo đó, Metformin có tác dụng làm giảm nồng độ Glucose trong máu bằng cách làm giảm quá trình sản xuất glucose ở gan và làm giảm khả năng hấp thu glucose ở ruột.

Hơn nữa Metformin còn làm tăng độ nhạy cảm của insulin (cơ chế chính của nhóm thuốc này) bằng cách làm tăng khả năng hấp thu và sử dụng glucose ở ngoại vi.

Các cơ chế này dẫn đến làm giảm lượng đường có trong máu, nhờ đó mà kiểm soát các biến chứng của bệnh đái tháo đường type II.

Ngoài ra, Metformin còn có cơ chế tác động tích cực trong quá trình chuyển hóa lipid, nhờ đó làm giảm lượng cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol và triglycerid trong máu.

Ưu điểm

Có khả năng làm giảm HbA1c xuống 1-1.5% và làm giảm nguy cơ tử vong.

Không như các nhóm thuốc điều trị đái tháo đường khác, nguy cơ hạ đường huyết khi dùng Metformin rất thấp.

Không làm tăng cân nặng mà còn có thể làm giảm cân nhẹ.

Có khả năng làm giảm nguy cơ gây ra các biến chứng trên tim mạch.

Chi phí sử dụng, giá thành thấp.

Dễ sử dụng.

Metformin dùng đơn độc có thể được điều trị lâu dài.

Nhược điểm

Metformin gây nên tác dụng phụ trên đường tiêu hoá điển hình như: buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng.

Ngoài ra, dùng Metformin còn dẫn đến làm giảm hấp thu vitamin B12 nhưng khả năng gây thiếu máu là ít gặp .

Metformin không được sử dụng cho bệnh nhân có eGFR ( sức lọc cầu thận ước tính) < 30ml/min/1.73m2 theo như FDA đã khuyến cáo.

Có thể gây nên hội chứng nhiễm toan lactic ( tình trạng này rất hiếm gặp tuy nhiên khi mắc phải lại cực kỳ nguy hiểm).

Nhóm Thiazolidinedion ( TZD)

Sơ lược về nhóm TZD

Thiazolidinediones (còn được gọi là glitazones) là chất tăng tính nhạy cảm với insulin tại các mô đích, được đưa vào sử dụng để điều trị đái tháo đường type II.

TZDs được tìm ra vào năm 1980 và đã được đưa vào sử dụng.

Pioglitazon được cấp bằng sáng chế vào năm 1985, đưa vào sử dụng năm 1999. Hiện nay, Pioglitazol là thuốc TZD suy nhất còn được sử dụng.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, Cục Quản lý Dược đã quyết định ngừng cấp số đăng kí mới, số đăng kí lại các thuốc chứa Pioglitazon kể từ năm 2012 theo Công văn số 13707/QLD-ĐK ngày 13/9/2012,

Troglitazon được đưa vào sử dụng ở thị trường Mỹ vào năm 1997 nhưng bị rút khỏi thị trường vào năm 2000.

Rosiglitazon được đưa vào sử dụng năm 1999. Tuy nhiên, đến năm 2010, thuốc này đã bị hạn chế ở nhiều nước.

Tại Việt Nam, ngay khi có khuyến cáo tạm ngưng lưu hành Rosiglitazon, Cục quản lý Dược cũng đã ban hành khuyến cáo trên cả nước về việc thận trọng dùng Rosiglitazon.

Công văn số 111816/QLD-TT ngày 01/10/2010 về việc khuyến cáo sử dụng thuốc có chứa hoạt chất Rosiglitazon và công văn 3886/QLD-ĐK ngày 22/3/2011 về việc ngừng tiếp nhận và xem xét hồ sơ nhập khẩu Rosiglitazon
Công văn số 111816/QLD-TT ngày 01/10/2010 về việc khuyến cáo sử dụng thuốc có chứa hoạt chất Rosiglitazon và công văn 3886/QLD-ĐK ngày 22/3/2011 về việc ngừng tiếp nhận và xem xét hồ sơ nhập khẩu Rosiglitazon

Cơ chế tác động

TZD kích hoạt thụ thể PPAR chủ yếu nằm trên tế bào mỡ và mạch máu. PPAR được kích hoạt sau đó nó sẽ liên kết với receptor Retinoid-x tạo thành phức hợp Heterodimers. Phức hợp này sau đó có thể điều chỉnh quá trình phiên mã của các gen liên quan đến chuyển hóa glucose và lipid.

Tăng nhạy cảm với insulin ở cơ, gan, mô mỡ.

Tăng tân tạo glut-4 làm tăng thu nhận và sử dụng glucose

Giảm tân tạo glucose ở gan.

Ưu điểm

Giảm chỉ số HbA1c.

Nguy cơ hạ đường huyết thấp.

An toàn trên tim mạch.

Giảm liều insulin (giảm 30-40%)

Giảm triglycerid và làm tăng HDL- Cholesterol có lợi cho cơ thể.

Nhược điểm

Gây ra tình trạng phù và tăng cân nặng.

Có nguy cơ dẫn đến suy tim.

TZD có thể gây ra những tổn thương ở gan. Do đó, FDA đã ra khuyến cáo nên thử chức năng gan trước khi điều trị bằng thuốc này.

Trên phụ nữ: tăng nguy cơ bị gãy xương, thiếu máu.

Có thể dẫn đến nguy cơ ung thư bàng quang.

Các nhóm thuốc kích thích tế bào beta đảo tụy tiết insulin

Nhóm Sulfonylurea (SU)

Sơ lược về Nhóm Sulfonylurea

Nhóm Sulfonylurea hay còn gọi là các sulfamid có tác dụng hạ đường huyết.

Sulfonylurea là một trong số thuốc thuộc nhóm thuốc đường uống dùng điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường type II phổ biến. Tác dụng hạ đường huyết của thuốc Sulfonylurea ban đầu không được nghiên cứu. Tuy nhiên, tác dụng này lại vô tình được phát hiện trong quá trình nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của một dẫn chất thuộc nhóm thuốc này.

Hiện nay, các thuốc Sulfonylurea có 3 thế hệ:

Thế hệ 1: ra đời từ những năm 1950, gồm: Carbutamid, Chlorpropamid, Acetohexamid, Tolbutamid.

Thế hệ 2: Ra đời từ những năm 1980, gồm: Gliclazid, Glipizid, Glyburid, Glibenclamid.

Thế hệ 3: Ra đời vào những năm 2000 : Glimepirid

Cơ chế tác dụng

Sulfonylurea có cơ chế làm kích thích tế bào beta đảo tụy tăng tiết insulin, giúp cơ thể tăng đáp ứng với insulin và sử dụng nó tốt hơn. Ngoài ra, Sulfonylurea còn có tác dụng ức chế sản xuất Glucose ở gan .

Ưu điểm

Sulfonylurea có thể sử dụng lâu dài, lâu năm.

Sulfonylurea có thể giảm thiểu được các nguy cơ biến chứng trên mạch máu nhỏ, nhờ đó giảm nguy cơ tử vong do tim mạch.

Nhược điểm

Nhóm Sulfonylurea có thể gây ra tác dụng phụ là hạ glucose huyết và tăng cân.

Nhóm Glinide (Meglitinides)

Sơ lược về Nhóm Glinide (Meglitinides)

Nhóm thuốc Meglitinides đã được FDA cấp phép sử dụng từ năm 1997.

Nhóm này gồm Repaglinid, Netaglinid. Tuy nhiên hiện nay, chỉ còn Repaglinid được sử dụng phổ biến trong điều trị đái tháo đường type II. Có thể dùng đơn độc nhóm thuốc này hoặc phối hợp trong phác đồ điều trị với các thuốc điều trị đái tháo đường khác.

Cơ chế tác động

Nhóm thuốc Meglitinides có cơ chế hoạt động là đóng các kênh ion kali phụ thuộc ATP trong các tế bào beta của tiểu đảo tụy. Do đó quá trình khử cực xảy ra và làm mở các kênh canxi. Khi lượng canxi nội bào tăng lên đến mức nhất định sẽ gây kích thích tiết insulin.

Ưu điểm

Meglitinides giúp hạ glucose huyết sau ăn

Meglitinides có thể được sử dụng cho bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận.

Nhược điểm

Meglitinides có khả năng gây tăng cân

Meglitinides còn có thể gây hạ đường huyết và phải dùng nhiều lần.

Thuốc đồng vận thụ thể GLP-1(Glucagon like peptide- 1)

Sơ lược về nhóm thuốc đồng vận thụ thể GLP-1

Vào năm 1987, GLP-1 là một incretin với bản chất peptid với thời gian bán thải rất ngắn được tìm ra.

Vào năm 2005, thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 lần đầu tiên được FDA chấp thuận là exenatid.

Các thuốc hiện có nhóm này gồm Liraglutid, Exenatid, Albiglutid, Dulaglutid, LixisenatidSemaglutid .

Cơ chế hoạt động

Incretin là hormon được bài tiết bởi tế bào L ở ruột non, nhất là sau bữa ăn. GLP-1 là một incretin, một phần của chất này được vận chuyển theo máu đến tuyến tụy. Khi GLP-1 đến tuyến tụy, sẽ kích thích tuyến tụy tăng tiết insulin và giảm tiết Glucagon. Và nhờ đó insulin được tiết ra từ tuyến tụy và lượng glucagon giảm đi, dẫn đến tăng sử dụng glucose. Ngoài ra, GLP-1 còn có tác dụng làm giảm nhu động dạ dày và làm giảm cảm giác thèm ăn, xúc tiến cảm giác no.

Ưu điểm

Thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 có thể làm giảm được glucose huyết sau ăn

Ngoài ra, khi dùng điều trị đơn độc, thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 còn có tác dụng làm giảm cân.

Thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 ít độc, nguy cơ hạ huyết áp thấp

Giảm tỷ lệ tử vong do tim mạch

Giảm HbA1c 0,6- 1,5 %

Nhược điểm

Tác dụng phụ có thể bắt gặp là dễ gây đau bụng, gây buồn nôn, nôn, viêm tụy cấp. Chống chỉ định dùng thuốc khi bệnh nhân có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư tuyến giáp hoặc u tuyến giáp

Sử dụng đường tiêm, khó khăn khi sử dụng.

Một số đặc điểm dược động học của các thuốc điều trị đái tháo đường type II
Một số đặc điểm dược động học của các thuốc điều trị đái tháo đường type II.

Thuốc ức chế enzyme DPP-4 ( dipeptidyl peptidase 4)

Sơ lược về nhóm thuốc ức chế enzyme DPP-4

Bốn thuốc ức chế DPP-4 hiện có trong điều trị ĐTĐ type II là Sitagliptin, Vildagliptin, Saxagliptin, Linagliptin, Alogliptin

Ngày 17/10/2006, FDA đã phê duyệt thuốc Sitagliptin phosphate (Biệt dược Januvia TM ) – là thuốc nhóm ức chế enzym DPP-4 đầu tiên tại Mỹ được dùng để điều trị đái tháo đường type II.

Tiếp theo là Vildagliptin được cho phép sử dụng trước tiên tại Liên đoàn Châu Âu, sau đó mới tới Hoa Kỳ (năm 2007).

Vào tháng 7/2009 Saxagliptin được FDA phê duyệt.

Vào tháng 5/2011 Linagliptin chính thức được FDA phê duyệt.

Vào ngày 25/1/2013, Alogliptin được FDA phê duyệt.

Cơ chế tác dụng

Nhóm thuốc ức chế enzym DPP-4 làm ức chế hoạt động của enzyme DPP-4, qua đó làm tăng hiệu lực của GLP-1, kích thích tiết insulin và ức chế bài tiết glucagon.

Ưu điểm

Không gây hạ glucose huyết khi dùng đơn độc

Khả năng dung nạp tốt

Giảm chỉ số HbA1c từ 0.5 – 1%

Nhược điểm

Có thể gây một số tác dụng không mong muốn như dị ứng, nổi mề đay, ngứa, gây phù và viêm

Các nhóm thuốc ức chế hấp thu Glucose tại ruột

Nhóm thuốc ức chế enzym Alpha-glucosidase

Sơ lược về nhóm thuốc ức chế enzym Alpha-glucosidase

Nhóm thuốc ức chế enzym Alpha-glucosidase gồm có 2 thế hệ thuốc:

Thế hệ 1: Acarbose (Precose), Miglitol (Glyset)

Thế hệ 2: Voglibose: hạn chế được tác dụng phụ hơn so với thế hệ đầu

Cơ chế hoạt động

Nhóm thuốc ức chế men Alpha-glucosidase ức chế sự phân hủy carbohydrate có trong thực phẩm thành đường glucose ở trong ruột. Cơ chế của nó có tác dụng làm chậm đi sự hấp thu glucose vào trong máu, nhờ đó giúp làm giảm tình trạng tăng đường huyết sau bữa ăn.

Ưu điểm

Thuốc ức chế enzym Alpha-glucosidase dùng đơn độc không gây hạ glucose huyết.

Thuốc có tác dụng tại chỗ làm giảm glucose huyết sau ăn.

Giảm chỉ số HbA1c từ 0.5 – 0.8%

Nhược điểm

Thuốc ức chế enzym Alpha-glucosidase có thể gây ra tác dụng phụ là rối loạn tiêu hóa, đầy hơi, tiêu phân lỏng.

Thuốc cần được phối hợp với một loại thuốc hạ glucose khác để đạt hiệu quả tốt hơn.

Các nhóm thuốc tăng đào thải glucose qua nước tiểu

Nhóm ức chế kênh đồng vận chuyển SGLT2 (Sodium Glucose cotransporter 2)

Sơ lược về nhóm thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển SGLT2

Tính cho đến nay, nhóm ức chế SGLT2 có 3 thuốc đã được FDA phê duyệt và chấp nhận cho sử dụng là canagliflozin, dapagliflozinempagliflozin

Vào tháng 03/2013, Canagliflozin là thuốc ức chế SGLT2 đầu tiên được FDA chấp thuận.

Tháng 01/2014, Dapagliflozin chính thức được FDA cấp phép cho sử dụng.

Và đến 01/08/2014, Empagliflozin cũng đã được FDA cấp phép lưu hành.

Cơ chế tác động

Thuốc có tác dụng làm ức chế tác dụng của kênh đồng vận chuyển Natri-glucose (SGLT2) tại vị trí ống lượn gần. Nhờ đó, ức chế tái hấp thu glucose và làm tăng đào thải glucose qua đường niệu.

Ưu điểm

Nguy cơ hạ glucose huyết thấp khi dùng đơn độc.

Có thể làm giảm được cân nặng, hạ huyết áp

Giảm được tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao

Giảm chỉ số HbA1c từ 0.5-1%

Nhược điểm

Một số tác dụng phụ thường gặp như nhiễm trùng đường tiểu, nhiễm ceton acid, nhiễm candida âm đạo, mất xương (với canagliflozin).

Insulin

Insulin được chỉ định trong điều trị đái tháo đường type II khi:

HbA1c >9,0% và đường huyết lúc đói > 15mmol/l

Người bệnh đái tháo đường đang bị mắc một bệnh cấp tính khác (như nhiễm trùng nặng, nhồi máu cơ tim, đột quỵ,….)

Bệnh nhân bị suy gan hoặc suy thận, bị chống chỉ định dùng các thuốc hạ Glucose máu đường uống.

Người bệnh đái tháo đường đang mang thai hoặc đái tháo đường thai kỳ.

Thất bại với điều trị bằng các thuốc hạ Glucose máu đường uống hoặc dị ứng với các thuốc này.

Lưu ý khi sử dụng các thuốc hạ đường huyết trong điều trị đái tháo đường

Bệnh nhân cần biết tên, nhóm thuốc của thuốc mà mình đang dùng.

Tuân thủ theo liều điều trị và hướng dẫn sử dụng của thuốcĐể kiểm soát bệnh lý này cần dùng các thuốc điều trị đái tháo đường type II mà chủ yếu là các thuốc có tác dụng làm giảm lượng đường máu.

Đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được các bác sĩ xử lý nếu gặp tác dụng không mong muốn.

Không tự ý phối hợp thuốc, mặc dù điều này là có thể. Nếu bạn muốn tăng liều, giảm liều hay phối hợp thuốc, bạn cần phải được sự đồng ý của bác sĩ

Không tự ý bỏ bớt thuốc ra khỏi đơn thuốc được kê.

Tái khám bệnh đúng ngày

Khi điều trị đái tháo đường cần phối hợp với chế độ ăn uống hợp lý và tăng cường vận động cơ thể. Các thuốc điều trị đái tháo đường không thể thay thế cho các chế độ ăn uống và luyện tập thường xuyên được.

Tài liệu tham khảo

1. American Diabetes Association. (2022). Introduction: Standards of medical care in diabetes—2022. Diabetes care, 45(Supplement_1), S1-S2.

2. Bộ y tế, Quyết định 5481/QĐ-BYT Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2 (2020).

3. Diabetes Mellitus, Overview of the antidiabetic agents, truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.

4. Tạp chí y học thực hành, Hiểu thêm về những chế phẩm thuộcnhóm ức chế dpp-4 trong điều trị đái tháo đường týp 2 hiện nay, truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.

5. Textbook of Diabetes 4th, Willey-blacwell, truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2022.

Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here