Enter your keyword

Chỉ số về bilirubin
5 (100%) 1 vote

1.Mức bilirubin trong máu:

Toàn phần <1,5mg/dL, trực tiếp < 0,5mg/đL, SI: toàn phần < 26/micromol/L, trực tiếp < 8,6 micromol/L

– Bilirubin là sản phẩm thoái hoá của hemoglobin. Trong huyết tương, bilirubin được vận chuyển dưới dạng gắn với albumin. Tới gan nhờ glucuronyl transeferase, bilirubin liên hợp với hai phân tử acid gíucuronic trở thành bilirubin diglucuronic. Loại liên hợp này rất tan trong huyết thanh và được gọi là bilirubin trực tiếp hoặc bilirubin gan. Loại bilirubin chưa liên hợp được gọi là bilirubin tự do hoặc gián tiếp hoặc bilirubin trước gan. Bilirubin liên hợp cùng với các acid mật được tích ở túi mật. Khi mật đổ vào ruột trong quá trình tiêu hoá, vi khuẩn đường ruột biến bilirubin thành urobilinogen và stercobilinogen. Những sản phẩm này không màu, tiếp tục chuyển biến theo 3 con đường:

1.Bị oxy hoá thành urobilin và stercobilin có màu, phần lớn được thải vào phân.

2. Qua chu trình ruột gan, tái hấp thu trở về gan rồi lại bài xuất vào mật.

Một phần nhỏ được đào thải qua nước tiểu.

Các nguyên nhân gây tăng bilirubin huyết có thể phân thành 3 loại:

  • Trước gan
  • Tại gan (bilirubin loại ra khỏi máu kém hoặc liên hợp kém).
  • Sau gan (tắc đường dẫn mật).

Khi nồng độ bilirubin huyết thanh cao khoảng trên 34 mmol/l thì xuất hiện vàng da.

Vàng da tiêu huyết là do phá huỷ hồng cầu nhiều vượt quá khả năng liên hợp cuả gan.

Vàng da sơ sinh là do thiếu enzym liên hợp.

Một số thụốc có thể gây thiếu máu tiêu huyết do cơ chế miễn dịch (methyldopa, penicilin, cephalosporin, quinidin, ibuprófen, triamteren) hoặc do cơ chế oxy hoá hemoglobìn (dapson, một số thuốc sốt rét, sulfonamid…)

Tổn thương tế bào gan, trong viêm gan do virus, hoặc do độc tố thường gây tăng nồng độ bilirubin huyết thanh, chủ yếu loại trực tiếp, và tăng rất cao hoạt độ transaminase, trong đó ALAT thường cao hơn ASAT.

Một số thuốc có thể trực tiếp gây tồn thương tế bào gan: acetaminophen, halothan, tetracyciin, acid valproic, isoniazid, rifampicin, methyldopa. Tổn thương gan do thuốc có thể không phân biệt được với tổn thương viêm gan cấp do virus. Trong viêm gan do rượu, hoạt độ transaminase thường chỉ bằng một phần thấy ở viêm gan virus, ASAT thương cao hơn ALAT.

Bệnh nhân vàng da tắc mật thường có phân trắng bệch màu đất sét và nước tiểu sẫm mẫu vì có sự đào thải  nhiều sắc tố mật ra nước tiểu còn ở phân thì không có. Thiếu acid mật trong ống tiêu hoá do tắc gây chứng (phân mỡ)- Transaminase thường chỉ tăng ít, phosphatase kiềm tặng rất cao. Nguyên nhận hay gặp nhất của tắc mật là sỏi mật, ung thư đầu tuy. Một Số thuốc gây vàng da ứ mật như: ostrogen, chclopromazin, erythromycin estolat…

copy ghi nguồn:  https://nhathuocngocanh.com/

link bài viết: https://nhathuocngocanh.com/chi-so-ve-bilirubin/

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *