Enter your keyword

Supirocin

45,000VNĐ

In stock N/A .

Mô tả

Rate this post

Nhà thuốc Ngọc Anh xin giới thiệu đến quý khách sản phẩm thuốc Supirocin được chỉ định để điều trị tại chỗ các bệnh nhiễm khuẩn ở ngoài da bao gồm cả các trường hợp nguyên phát và thứ phát gây ra bởi các vi khuẩn nhạy cảm. Dưới đây là các thông tin chi tiết về sản phẩm này.

Thuốc Supirocin giá bao nhiêu? mua ở đâu?

Thuốc Supirocin giá 45.000 VNĐ/Hộp bán tại nhà thuốc Ngọc Anh, chúng tôi giao hàng toàn quốc, tư vấn miễn phí 098 572 9595.

Thành phần

Hoạt chất: Mupirocin USP 2% kl/kl

Tá dược:

  • PEG 400
  • PEG 4000

Thuốc Supirocin có tác dụng gì?

Thuốc mỡ Supirocin được chỉ định để điều trị tại chỗ các bệnh nhiễm khuẩn ở ngoài da bao gồm cả các trường hợp nguyên phát và thứ phát gây ra bởi các vi khuẩn nhạy cảm như:

  • Chốc lở
  • Các vết thương nhiễm khuẩn thứ phát
  • Vết bỏng
  • Viêm mô tế bào
  • Vết loét chân mạn tính
  • Loét tĩnh mạch rỉ dịch
  • Ngoài ra, Supirocin có thể dùng để dự phòng nhiễm khuẩn vị trí rút ống catheter và có thể dự phòng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật da.

Cách dùng – Liều dùng

Cách dùng thuốc Supirocin

Rửa sạch nhẹ nhàng, thấm khô, thoa kem ngày 2 – 3 lần trên vùng da cần tác dụng.

Liều dùng thuốc Supirocin ở người lớn

Liều thường dùng là bôi một lớp mỏng vừa đủ thuốc mỡ Supirocin lên các vùng bị tổn thương 2 – 3 lần mỗi ngày, từ 5 đến 10 ngày cho các bệnh nhân bị nhiễm khuẩn da nguyên phát và thứ phát. Có thể băng vùng bôi thuốc bằng gạc nếu muốn. Chỉ dùng điều trị cho các vết thương có chiều dài dưới hoặc bằng 10cm hay có diện tích dưới hoặc bằng 100cm2.

Dùng thuốc Supirocin bao lâu là khỏi?

Các bệnh nhân không thấy có tác dụng sau 3 – 5 ngày điều trị phải được khám lại và xem lại chỉ định

Bệnh nhân bị nhiễm khuẩn nặng có thể cần thời gian điều trị dài hơn, và nếu thấy có nhiễm khuẩn toàn thân, phải dùng các kháng sinh đường toàn thân.

Liều dùng cho trẻ em

Theo các dữ liệu lâm sàng hiện có, thuốc mỡ Supirocin là an toàn và hiệu quả khi bôi ngoài da cho trẻ từ 2 tháng đến 16 tuổi.

Đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi an toàn và hiệu quả chưa được xác định.

Với bệnh nhân bị chốc lở, có thể bôi một lượng nhỏ Supirocin lên vùng bị bệnh 3 lần mỗi ngày thời gian cách đều nhau. Có thể băng vùng bôi thuốc bằng gạc nếu muốn.

Cách bôi thuốc cho trẻ em là tương tự như với người lớn nhưng tốt nhất là nên dùng ít thuốc hơn và khoảng cách giữa các lần bôi dài hơn.

Chống chỉ định

Chống chỉ định dùng thuốc mỡ Supirocin cho bệnh nhân có tiền sử đã biết hoặc nghi ngờ quá mẫn với mupirocin hay bất cứ thành phần nào có trong thuốc Supirocin kể cả tá dược.

Khi sử dụng thuốc Supirocin cần lưu ý những điều gì?

Thuốc mỡ Supirocin chứa polylethylen glycol nên chỉ dùng ngoài da và không dùng cho các vùng da hay niêm mạc bị rách, các vết thương mở rộng và vết bỏng vì Polyethylen glycol có thể đựợc hấp thu, sau đó bài tiết qua thận. Cũng giống như các thuốc mỡ chứa polyethylen glycol khác, không dùng Mupirocin cho các trường hợp có thể gây hấp thu một lượng lớn polyethylen glycol, đặc biệt khi bệnh nhân đang bị suy thận vừa hoặc nặng.

– Không dùng để tra mắt, đường tiêu hóa, hay đặt trong âm đạo.

– Thuốc này chỉ dùng ngoài da

– Tránh bôi lượng thuốc lớn và trên diện tích quá lớn sẽ làm ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc.

– Nếu xuất hiện kích ứng thì cần phải ngừng thuốc

– Như các thuốc kháng khuẩn khác, dùng kéo dài có thể gây ra hiện tượng kháng thuốc, sự phát triển quá mức các vi sinh vật không nhạy cảm với thuốc, kể cả nấm.

– Nên thận trọng khi dùng cho các trường hợp làm tăng hấp thu thuốc, như bôi lượng lớn thuốc, bôi lên da bị thương tổn, bôi kéo dài, và băng kín vùng bôi.

Tác dụng phụ

Các tác dụng phụ hay gặp khi sử dụng thuốc Supirocin

– Cảm giác bỏng rát, kim châm hay đau ở 1.5% bệnh nhân.

– Ngứa ở 1% bệnh nhân

– Gây kích ứng da như: Nổi ban, buồn nôn, ban đỏ, khô da, da dễ nhạy cảm, sưng tấy, viêm da tiếp xúc, và tăng rỉ dịch ở dưới 1% bệnh nhân.

Các phản ứng toàn thân với thuốc mỡ Mupirocin hiếm khi được báo cáo.

Điều trị tác dụng phụ của thuốc như thế nào?

– Nếu xuất hiện kích ứng thì cần phải ngừng thuốc

Tương tác với các thuốc khác

Ảnh hưởng của việc dùng đồng thời thuốc mỡ Supirocin và các thuốc dùng toàn thân hay tại chỗ khác chưa được nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên, do mupirocin rất ít hấp thu qua da, tương tác thuốc với các thuốc dùng toàn thân là không có khả năng xảy ra.

Ảnh hưởng của thuốc Supirocin lên khả năng lái xe và vận hành máy móc

Không thấy tác dụng phụ nào trên khả năng lái xe hay vận hành máy.

Ảnh hưởng của thuốc Supirocin lên phụ nữ mang thai và cho con bú

Phụ nữ mang thai

Mupirocin: Phân loại thai kỳ Nhóm B

Các nghiên cứu về sinh sản trên chuột cống và thỏ dùng mupirocin dưới da với liều tương ứng gấp 22 và 43 lần liều dùng tại chỗ cho người tính theo mg/m2 (khoảng 60mg mupirocin/ngày) cho thấy không có nguy cơ nào cho thai nhi do mupirocin. Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu đầy đủ và kiểm soát tốt trên phụ nữ mang thai. Do các nghiên cứu trên động vật không luôn luôn dự đoán được các đáp ứng trên người, chỉ nên dùng thuốc cho phụ nữ mang thai khi thực sự cần thiết.

Phụ nữ nuôi con bú

Không biết thuốc có bài tiết qua sữa mẹ không. Vì nhiều thuốc bài tiết qua sữa mẹ, nên thận trọng khi dùng mupirocin cho phụ nữ nuôi con bú.

Quá liều, quên liều và cách xử trí

Triệu chứng khi dùng quá liều thuốc Supirocin

Truyền tĩnh mạch 252mg mupirocin, hay uống đơn liều 500mg mupirocin đều được dung nạp tốt ở người lớn tình nguyện khỏe mạnh. Chưa có kinh nghiệm cho dùng thuốc mỡ Mupirocin. Chưa có trường hợp dùng quá liều thuốc mỡ Mupirocin nào được báo cáo. Vì mupirocin rất ít hấp thu qua da, quá liều thuốc hầu như rất hiếm khi xảy ra.

Nên làm gì khi quên 1 liều thuốc Supirocin

Nên bôi thuốc ngay khi nhớ ra, nhưng nếu gần thời gian lần bôi tiếp theo thì không cần bôi mà đợi lần tiếp theo. Nếu quên bôi quá nhiều lần có thể xảy ra hiện tượng vi khuẩn, kst kháng thuốc sẽ làm giảm hiệu quả điều trị

Đặc điểm thuốc mỡ Supirocin

Thuốc mỡ Supirocin chứa Mupirocin USP 2% kl/kl trong tá dược nền còn có propylen glycol. Mupirocin hay axit Pseudomonic A là một kháng sinh tự nhiên, được phân lập từ Pseudomonas fluorescens.

Tá dược nền propylen glycol, bên cạnh đặc tính giữ ẩm, còn làm tăng hiệu quả và bổ sung vào các đặc tính kháng khuẩn của thuốc.

Nghiên cứu tiền lâm sàng

TÍNH GÂY UNG THƯ, ĐỘT BIẾN GEN VÀ SUY GIẢM KHẢ NĂNG SINH SẢN

Các nghiên cứu dài hạn trên động vật để đánh giá khả năng gây ung thư của mupirocin chưa được tiến hành. Kết quả của các nghiên cứu sau đây dùng Canxi mupirocin và Natri mupirocin in vitro và in vivo không cho thấy độc tính với gen: tổng hợp DNA không có trình tự ở tế bào gan chuột cống, phân tích các đứt gãy chuỗi DNA, thử nghiệm Salmonella (Ames), thử nghiệm đột biến E.coli, phân tích phân bào tế bào lympho người, thử nghiệm u lympho ở chuột nhắt, và thử nghiệm vi nhân tủy xương ở chuột nhắt.

Các nghiên cứu về sinh sản trên chuôt cống đực và cái dùng mupirocin dưới da với liều gấp 14 lần liều dùng tại chỗ cho người tính theo mg/m2 (khoảng 60mg mupirocin/ngày) cho thấy không có nguy cơ về suy giảm khả năng và năng suất sinh sản do mupirocin.

Dược lực học

Mupirocin (axit pseudomonic; axit pseudomonic A) là một loại kháng sinh được sản xuất bởi từ cách lên men chìm Pseudomonas fluorescens và có cấu trúc khác biệt với các kháng sinh khác. Các chất khác tạo ra bởi Pseudomonas fluorescens như axit pseudomonic B, C và D cũng đã được khảo sát về hoạt tính kháng khuẩn nhưng mupirocin là chất có hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất trong tất cả các chất phân lập. Axit pseudomonic B, C và D nhìn chung có hoạt tính kháng khuẩn nhưng yếu hơn axit pseudomonic A (mupirocin) 2 – 4 lần.

Cơ chế tác dụng đặc biệt của mupirocin là nó gắn kết đặc hiệu và đảo ngược được với enzym isoleucyl transfer-RNA synthetase của vi khuẩn dẫn đến ngưng tổng hợp protein đồng thời ức chế tổng hợp RNA. Nhờ cơ chế tác dụng này, tốc độ xuất hiện tụ cầu kháng mupirocin trong các nghiên cứu in vitro là thấp, và không có kháng chéo với các kháng sinh dùng ngoài da khác. Mupirocin có tác dụng chống lại các chủng Staphylococcus aureus đa kháng và tụ cầu coagulase âm tính, bao gồm các chủng kháng với penicillin, methicillin, neomycin, erythromycin, axit fusidic, lincomycin, chloramphenicol, tetracyclin và gentamicin. Mupirocin đi vào tế bào nhờ khuếch tán thụ động. Nồng độ mupirocin trong các vi khuẩn nhạy cảm phụ thuộc vào vị trí kết nối với enzym isoleucyl-tRNA synthetase. Kháng mupirocin liên quan đến việc không tiếp cận được vị trí kết nối vởi enzym isoleucyl-tRNA synthetase để chống lại các thay đổi của màng tế bào.

Phổ kháng khuẩn

Theo các nghiên cứu in vitro, Mupirocin có phổ hoạt tính kháng khuẩn rộng, bao gồm:

Các vi khuẩn Gram dương: Staphylococcus aureus (bao gồm cả tụ cầu vàng kháng methicillin và sinh beta-lactamase). Staphylococcus epidermis, Staphylococcus saprophyticus, và Streptococcus pyogenes.

Các vi khuẩn Gram âm: H. influenzae, N. gonorrhoeae, N. meningitidis, Bordetella pertussis, Pasteurella multocida và M. Catarrhalis (nồng độ ức chế tối thiểu MIC ít hơn hoặc bằng 0.25mg/L). Mupirocin cũng có tác dụng in vitro chống lại S. aureus kháng methicillin mà kháng cả gentamicin.

Mupirocin có tính diệt khuẩn ở nồng độ đạt được khi bôi ngoài da. Tuy nhiên, nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) của mupirocin chống lại các vi khuẩn gây bệnh liên quan là thường gấp 8 – 30 lần nồng độ ức chế tối thiểu (MIC). Thêm vào đó, mupirocin liên kết mạnh với protein (> 97%) và ảnh hưởng của dịch tiết vết thương lên MIC của mupirocin chưa được xác định.

Hiếm khi xảy ra kháng Mupirocin. Tuy nhiên, nếu xảy ra, có lẽ là do việc sản xuất enzym isoleucyl-tRNA synthetase bị biến đổi. Kháng thuốc qua trung gian plasmid ở mức độ cao (MIC > 1024 mcg/mL) đã được báo cáo ở một số chủng S. aureus và tụ cầu coagulase âm tính. Do cơ chế tác dụng đặc biệt của nó, mupirocin không đề kháng chéo với các nhóm kháng sinh khác trên in vitro.

Dược động học

Sinh khả dụng của mupirocin khi dùng tại chỗ là rất thấp (0.24%). Tính thấm của mupirocin tăng lên khi băng kín hoặc khi bôi thuốc vào vùng da bị thương tổn. 72 giờ sau khi dùng thuốc có đánh dấu phóng xạ, đã thấy có hoạt độ phóng xạ đo được trong biểu bì các bệnh nhân này. Mupirocin bị chuyển hóa chậm ở da thành chất chuyển hóa không hoạt tính, axit monic. Chỉ 2.7% mupirocin bị chuyển hóa sau 48 giờ trong chất đồng chất da người. Chỉ một lượng rất nhỏ thuốc được hấp thu và chuyển hóa, đường thải trừ chính là qua thận (chiếm 56% đến 90% tổng lượng thải trừ).

Nhà sản xuất

Glenmark (Ấn Độ)

Sản xuất tại Ấn Độ

Bảo quản: Bảo quản dưói 30°C, không để đông lạnh.

Đóng gói: Hộp 1 tuýp 5g.

Hạn dùng: 24 tháng kể từ ngày sản xuất

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Supirocin”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *