Hướng dẫn điều trị nếp nhắn – săn chắc da hiệu quả

điều trị nhăn da

Nhà thuốc Ngọc Anh – Phần 2 – Chương 9: Nhóm điều trị nếp nhăn – săn chắc da

Nguồn:Sách Các hoạt chất mesotherapy ứng dụng trong da liễu thẩm mỹ

Tác giả: Dược sĩ: Phạm Minh Hữu Tiến

Mesotherapy là phương pháp điều trị nhằm kích thích mô da ở vị trí biểu bì, trung bì và cả vùng nông hạ bì bằng cách tiêm chích trên bể mặt (không quá 4 mm) hoặc các kỹ thuật tăng thẩm thấu hoạt chất không dùng kim tiêm. Các hoạt chất thường được ứng dụng trong điều trị nếp nhăn gồm acid hyaluronic, glycosaminoglycans, vitamin c, dimethylaminoethanol (DMAE), acid lipoic, vitamin B, silic hữu cơ, ginkgo biloba. Việc sử dụng các phương pháp tiêm liều vi lượng tạo ra các kích thích vật lý thông qua các chấn thương và lỗ châm thủng để kích hoạt tăng sinh nguyên bào sợi, mạch máu và các thành phần miễn dịch với những tác dụng như sau:

Tổng hợp các glycosaminoglycans và proteoglycan.
– Tăng hydrat hóa làn da.
– Tăng sinh collagen.
– Trung hòa các gốc tự do.
– Tái tạo mô.- Kích thích các mạch máu và hệ thống bạch huyết [31]

ARGIRELINE LÀ GÌ?

Cơ chế

Argireline có danh pháp khoa học là acetyl hexapep-tide-3, được tổng hợp từ protein SNAP-25 (một phức hợp protein xuyên màng đóng vai trò quan trọng trong quá trình xuất nhập bào). Argireline có tác dụng chống nhăn nhờ khả năng ức chế sự hình thành phức hợp SNARE, ngăn cản sự phóng thích catecholamine tại tẩm động thần kinh cơ, gây tác động ức chế hoạt động co cơ [88]

Tác dụng

Argireline là lựa chọn phổ biến để điều trị lão hóa da do khả năng vừa làm giảm nếp nhăn đã hình thành và ngăn chặn sự xuất hiện nếp nhăn mới, đặc biệt là trên trán và xung quanh mắt.9.1.3.

Chỉ định

Thoa kem argireline 5% 2 lần/ngày được chứng minh là cải thiện 27% nếp nhăn quanh mắt sau 30 ngày. Trong một nghiên cứu khác, argireline làm giảm độ sâu của nếp nhăn lên đến 17% sau 15 ngày, và 30% sau 30 ngày. Về mặt lý thuyết, argireline có thể tiêm gióng như BoNTA (biệt dược của Botulinum Toxin A), sẽ làm giảm nếp nhăn thông qua hên kết của các cơ biểu hiện trên khuôn mặt.

Sau khi đánh giá và phân loại các nếp nhăn trước và sau khi điều trị, khả năng làm giảm nếp nhăn hiệu quả trong nhóm argireline là 48,9%, so với 0% ở nhóm dùng giả dược.

BIOTIN LÀ CHẤT GÌ?

Cơ chế tác dụng của Biotin

Biotin là một vitamin tan trong nước, đóng vai trò co-factor trong năm loại enzym carboxylase, mỗi enzym có chức năng xúc tác các phản ứng trung gian trong quá trình chuyển hóa acid béo, amino acidglucose. Biotin là yếu tố đồng vận (cofactor) của acetyl-CoA carboxylase. Có hai dạng acetyl-CoA carboxylase: acetyl-CoA carboxylase¬al-pha tồn tại ở bào tương, acetyl-CoA carboxylase – beta tồn tại ở ty thể. Cả hai dạng đểu có khả năng gắn kết nhóm bicarbonate vào acetyl-CoA, hình thành nên malonyl- CoA, vốn là cơ chất cho quá trình tổng hợp và kéo dài chuỗi acid béo.

Hoạt tính caboxylase suy giảm trong các trường hợp thiếu hụt biotin. Nhu cẳu biotin ở người hút thuốc và phụ nữ mang thai cao hơn so với người bình thường do tăng chuyển hóa. Thiếu hụt biotin sẽ gây ra viêm da và rụng tóc.Biotin được sử dụng phổ biến với mục đích kích thích mọc tóc, chống khô da và tóc nhờ tác dụng tăng cường tích hợp acid béo chuỗi dài vào lớp sừng. Hoạt chất giúp gia tăng độ đàn hổi thân tóc và chống gãy ngọn [114], [135].

Chỉ định

– Mụn.
– Chống lão hóa.
– Rụng tóc.

DMAE LÀ CHẤT GÌ?

Cơ chế tác dụng

DMAE (2-dimethylaminoethanol) hay deanol là tiền chất của acetylcholine. Acetylcholine không những có vai trò của một chất dẫn truyển thần kinh mà còn có chức năng tương tự các cytokin, tham gia điều khiển hoạt động sống của tế bào như nhân đôi, biệt hóa, vận động, nội và ngoại tiết,..
DM AE có ba tác dụng dược lý chính: tăng cường chức năng acetylcholine, hoạt tính chống viêm, chống oxy hóa.- Tăng cường chức năng acetylcholine: DMAE làm tăng nóng độ acetylcholine trong máu nhờ ức chế quá trình chuyển hóa acetylcholine tại gan và thận.

  • Kháng viêm: DMAE có tính kháng viêm trung bình nhờ khả năng ức chê’ IL-2, IL-6, IL-10 (ba loại cytokin quan trọng trong quá trình điều hòa chức năng miễn dịch, đáp ứng kháng thể và phản ứng miễn dịch). DMAE còn có tác dụng ức chế hoạt động của các yếu tố hoại tử khối u (TNF – tumor necrosis factor – alpha).
  • Chống oxy hóa: ở quy mô nghiên cứu phòng thí ng-hiệm, DMAE có tác dụng ngăn chặn hình thành các protein liên kết chéo (một dầu hiện dùng để đánh giá mức độ lão hóa tế’ bào). DMAE có khả năng trung hòa gốc tự do dạng hydroxyl, giúp đẩy lùi dấu hiệu lão hóa ở mức độ tế bào. Các mô hình kiểm chứng trên thiết bị cộng hưởng từ chứng minh khả năng ức chế phản ứng gốc tự do của DMAE làm giảm quá trình polyme hóa albumin huyết tương bò (quá trình vốn bị xúc tác bởi các gốc tự do). Ngoài ra, DMAE còn là tiền chất của phosphatidylcholine, thành phần sơ cấp cấu thành phospholipid màng tế’ bào. Vì vậy, DMAE có tác dụng ổn định chức năng màng tế’ bào hiệu quả.
  • Một nghiên cứu mù đôi, đa trung tâm, có nhóm chứng tiến hành khảo sát hiệu quả chống lão hóa của DMAE 3% dạng gel được tiến hành trên 156 bệnh nhân trong độ tuổi từ 35 – 60. Nhóm thử được sử dụng gel DMAE trong 16 tuần. Các liệu pháp điều trị lão hóa khác được tạm ngừng trong thời gian điều trị. Kết thúc thử nghiệm: nhóm thử nghiệm cho thấy mức độ cải thiện rõ rệt các nếp nhăn trước trán, nếp nhăn quanh mắt, độ dày môi và hình dáng môi.

Chỉ định

– Chống lão hóa.
– Cellulite.
– Làm săn chắc cơ thể.
– Điều trị rạn nứt da

SILIC HỮU CƠ

Cơ chế tác dụng

Silicon là thành phần phổ biến thứ hai trong vỏ quả đất. Silicon tồn tại ở hai dạng: vô cơ và hữu cơ. Silicon hữu cơ được xác định bởi sự hiện diện của liên kết Si-C. Sili-con hữu cơ tồn tại nhiều ở mô liên kết và các cấu trúc nâng đỡ trong cơ thể đặc biệt như: mô xương ở trẻ em, tế bào tạo xương, các cấu trúc bào quan của ty thể. Hàm lượng silicon đặc biệt cao ở tế bào tạo xương ở giai đoạn hoạt động.

Nghiên cứu của Needham (1995) chứng minh rằng: do cấu trúc nguyên tử đặc biệt, silicon là nhân tố quan trọng hình thành nên các cấu trúc đại phân tử trong cơ thể. Sil-icon có khả năng hình thành nên các liên kết và cầu nối giữa các chuỗi polysaccharid với protein, giúp tăng bộ bền, sức chịu đựng và độ đàn hồi cho mô liên kết.

Theo nghiên cứu của Kvoming (1950) và Schwarz (1978): hàm lượng silicon trong mạch máu và da suy giảm dân theo tuổi tác, lượng silicon càng thấp nguy cơ xơ vữa động mạch càng cao. Tuy nhiên, nghiên cứu của King và Belt (1938) cho thầy lượng silicon gia tăng trong mạch bạch huyết phế quản theo tuổi tác. Các nhà khoa học cho rằng, sự suy giảm silicon không diễn ra đồng bộ trong cơ thể lão hóa mà sự phân bố silicon mới là tác nhân ảnh hưởng chính [31].

Chỉ định

– Chống lão hóa.
– Cellulite.
– Làm săn chắc cơ thể.
– Rụng tóc.
– Giảm mỡ cục bộ.
– Rạn da, nứt da

Độc tính

Silicon dạng tan trong nước có độc tính thấp do dễ dàng được đào thải vào đường nước tiểu và phân. Nghiên cứu cho thấy tiêu thụ các dạng hợp chất khác nhau của silicon qua đường tiêu hóa trên mô hình động vật hoàn toàn vô hại ở điều kiện thí nghiệm [31].

FILLER, BOTULINUM TOXIN, CHỈ LÀ GÌ?

Filler
Ngoài những hoạt chất đã nêu trên có tác dụng trong điều trị nếp nhăn cũng như làm săn chắc da, còn một số phương pháp khác hiệu quả trong những trường hợp này.Filler là tên gọi chung của những phương pháp đưa các chất làm đầy vào vị trí nhất định. Hiện nay có rất nhiều chất làm đầy được phát triển trong ngành thẩm mỹ học, gây khó khăn cho không chỉ người mới biết sử dụng mà cả những người nhiều kinh nghiệm. Các chất làm đầy được phân loại dựa trên hai tiêu chí chính là mức độ phân hủy của chất và dữ liệu lâm sàng chứng minh tính hiệu quả.

Với tiêu chí mức độ phân hủy, các chất làm đẩy được phân thành hai loại chính là chất làm đầy vĩnh viễn và chất làm đầy không vĩnh viễn, ngoài ra còn có loại kết hợp cả hai loại vĩnh viễn và không vĩnh viễn. Nhóm chất làm đây không vĩnh viễn gồm: collagen, acid hyaluronic, alginat, acid poly-l-lactic, calcium hydroxylapatite. Nhóm chất làm đầy vĩnh viễn gồm silicon, polyacrylamide, polyalkylim-ide,… Một số cách kết hợp giữa hai loại chất.
làm đầy vĩnh viễn và không vĩnh viễn như kết hợp giữa collagen và polymethylmethacrylat hoặc acid hyaluronic và hydroxyethylmethacrylate.Filler cũng được phân loại là một phương pháp trong nhóm mesotherapy do phương pháp này cũng sử dụng những phương tiện để đưa hoạt chất vào đúng vị trí tác dụng. Hoạt chất trong trường hợp của filler đặc biệt là những chất không gây tác dụng sinh học nhưng được dùng để tăng kích thước hoặc làm đầy các vị trí như trong nâng ngực, nâng mũi, làm mờ nếp nhăn,…Acid hyaluronic (HA) là một chất làm đầy thường được sử dụng trong filler. HA được đưa vào trong các khoảng trống giữa các sợi collagen và elastin, có vai trò trong quá trình nâng đỡ da. HA tương tác với CD44 (một glycoprotein màng tế bào) dẫn đến tổng hợp collagen và thực hiện các chức năng thông thường của da. Hiện diện trong chất nền ngoại bào của tế bào sừng, HA rất quan trọng liên quan đến tính toàn vẹn cấu trúc nền của collagen trong da.

Hầu như tất cả các chất làm đầy được FDA (Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ) chứng nhận đều được chỉ định làm đầy “các đường nét và nếp gấp từ vừa phải đến sâu” như nếp nhăn rãnh má – mũi. Trong lịch sử, chất làm đầy như collagen được tiêm vào nếp nhăn vùng quanh miệng, mắt giữa lớp trung bì và thường được lưu giữ trong da khoảng 3-6 tháng. Chất làm đầy HA thường được tiêm trong da sâu hơn, thường là bể mặt lớp dưới của lớp trung bì và cũng giống như chất làm đầy khác chủ yếu được chỉ định cho những nếp nhăn sâu và nếp gấp.
Chất làm đầy HA được dùng để điều trị nếp nhăn rãnh má mũi, nếp nhăn quanh vùng môi, cũng như các nếp nhăn, nếp gấp tương tự khác trên gương mặt.

Các biến chứng có thể có của chất làm đầy HA khi chất làm đầy phân bố không đểu gây viêm, sưng, bầm tím. Tiêm chất làm đầy HA quá nông trong lớp hạ bì gây hiệu ứng Tyndall (xuất hiện một vùng màu xanh ngay dưới da), và hiếm gặp hơn là các trường hợp bị áp xe, nhiễm khuẩn và da bị khô, không tăng sinh được. Tùy thuộc vào các kỹ thuật tiêm, sưng và bầm tím là biểu hiện rất bình thường và có thể được làm dịu đi bằng cách chườm đá hoặc áp dụng kỹ thuật tiêm chậm. Bệnh nhân cần được cảnh báo rằng họ chắc chắn có thể trải nghiệm một số biểu hiện sưng và bầm tím cho ít nhất trong 48 giờ đầu tiên sau khi tiêm.

Botulinum toxin

Botulinum toxin là một độc tố được sinh ra bởi vi khuẩn Clostridium botulinum, với tên gọi quen thuộc là Botox. Loại độc tố này có tác dụng làm liệt cơ nên được sử dụng trong y học trên các trường hợp co cơ quá mức.Trong lĩnh vực thẩm mỹ, botulinum toxin đã được sử dụng từ nhiều thập kỷ trước để điều trị tình trạng nếp nhăn. Filler được sử dụng cho những nếp nhăn tĩnh (những nếp nhăn xuất hiện cả khi không có biểu hiện cảm xúc), botu-linum toxin được sử dụng để điều trị tình trạng nếp nhăn động (nhắn khi có biểu hiện cảm xúc). Loại hoạt chất này đặc biệt có tác dụng ở 1/3 trên của khuôn mặt, đặc biệt là khu vực trán và vùng mắt. Hiệu quả của phương pháp có thể đạt được sau chỉ 3 ngày và có thể nhìn thấy tói đa sau hai tuần. Sau 3-4 tháng, các cơ bị liệt có thể phục hồi trở lại. Chính vì thế mà điều trị nếp nhăn bằng botulinum toxin cần duy trì liên tục để có được làn da như mong muốn.Tùy vào những vị trí nếp nhăn khác nhau, bác sĩ sẽ quyết định vị trí, độ sâu cũng như số lượng mũi tiêm. Mặc dù cho hiệu quả rất tốt tuy nhiên lạm dụng phương pháp này sẽ làm cho khuôn mặt mất đi nét biểu cảm tự nhiên. Vì vậy, xu hướng hiện nay bệnh nhân ưa chuộng những hoạt chất khác cũng điều trị nếp nhăn trong phương pháp meso-therrapy hơn phương pháp truyền thống này.

Chỉ

Cùng với nếp nhăn, da chảy xệ cũng là một biểu hiện của da lão hóa. Nhiều phương pháp được sử dụng để’ cải thiện tình trạng này, trong đó có phương pháp dùng chỉ. Vào những năm 90 của thế kỷ 20, thị trường thẩm mỹ đã sáng tạo ra một quy trình mới được gọi là nâng cơ bằng chỉ.
Chỉ được phân loại dựa vào hai tiêu chí: cấu trúc và sự hấp thu.Theo cấu trúc Chỉ xoắn đơn, chỉ xoắn kép, chỉ xoắn kép hai lần, chỉ xoắn ba, chỉ đa sợi, chỉ gai,…Theo sự hấp thu: Chỉ vàng và chỉ bạch kim.Chỉ polypropylene.

Hấp thu trong thời gian dài:
Chỉ polyurethane và polyamide.

Hấp thu

  • Chỉ acid polylactic.
  • Chỉ acid polyglycolic.
  • Chỉ polydioxanon.

Các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ đã bắt đầu sử dụng phương pháp nâng cơ bằng chỉ để thay thế cho các mô trên mặt và ba loại chỉ được sử dụng là chỉ không hấp thu, chỉ hấp thu và chỉ hấp thu trong thời gian dài. Các loại chỉ vàng và chỉ bạch kim hiện không còn được sử dụng nhiều bởi sự tồn tại lâu dài của chúng trong mô gây cản trở khá lớn cho việc tiến hành các ca phẫu thuật hay phương pháp can thiệp khác. Chỉ polypropylene, chỉ polyurethane và polyamide thì vẫn đang được sử dụng. Việc nâng cơ bằng các loại chỉ này chỉ được thực hiện bởi các bác sĩ trong phòng phẫu thuật và cần sử dụng thuốc tê. Hơn nữa, phương pháp này có nhiều chống chỉ định và không được thực hiện với các bệnh nhân có làn da mỏng. Chỉ hấp thu từ polyxianone (PDO) là một loại chỉ mới được sử dụng trong ngành y học thẩm mỹ. Các sợi chỉ được luổn vào kim tiêm và đầu tự do được liên kết với kim qua một miếng tảo biển. Kim tiêm này được làm từ một loại thép đặc biệt và được mài bằng tia laser, rất dẻo và không bị gãy. Đặc tính này cho phép các bác sĩ có thể tự do chỉnh hướng đi của kim (lên-xuống-trái- phải) từ đó mang lại kết quả tỗt nhất cho việc cải thiện các đường nét cũng như sự đầy đặn của cấu trúc da. Sau khi kim đã được đưa vào trong da cùng với chỉ, kim có thể được lấy ra một cách dễ dàng để lại chỉ nằm trong các mô.

xem thêm: TOP 3+ nhóm kích thích sản sinh COLLAGEN mà mọi người chưa biết

Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here