Enter your keyword

Dược động học làm thay đổi tác dụng của các thuốc ức chế bơm proton
5 (100%) 3 votes

Thuốc ức chế bơm proton (PPI) là gì?

Các thuốc ức chế bơm proton (PPI): là các dẫn chất benzimidazole. Hiện nay trên trên thị trường có 5 PPI bao gồm :

  1. Thế hệ 1: omeprazole, lansoprazole, pantoprazole.
  2. Thế hệ 2: rabeprazole, esomeprazole.

Tất cả các PPI đều có cùng một cơ chế tác dụng là ức chế men H+K+ATPase. Tuy nhiên, giữa các PPI có sự khác nhau về các tính chất dược lý, điều này đã tạo nên sự khác biệt về hiệu quả lâm sàng.

dược động học làm thay đổi thuốc ức chế bơm proton (PPI)

Hình ảnh minh họa: dược động học làm thay đổi thuốc ức chế bơm proton (PPI)

Sự hoạt hóa của các PPI.

PPI là các tiền dược & là các base yếu.

Sau khi uống, chúng được hấp thu vào máu & phân phối đến các khoảng vi kênh. Tại đây, chúng bị ion hóa & chuyển thành dạng hoạt động – dạng sulfenamid với các nguyên tử sulfur bộc lộ. Các nguyên tử sulfur này sẽ gắn kết đồng hóa trị với các nguyên tử sulfur trong nhóm cystein của men H+K+ATPase (bơm proton) làm bất hoạt men này. Từ đó, ức chế giai đọan cuối cùng trong quá trình tạo acid.

Một PPI có tốc độ hoạt hóa nhanh sẽ cho thời gian tác dụng nhanh.

Đặc tính dược lý của thuốc ức chế bơm proton:

PPI là các tiền thuốc. Sau khi uống, thuốc được chuyển từ dạng không có hoạt tính trở thành dạng có hoạt tính. PPI không bền trong môi trường acid nên được bào chế ở dạng bao tan trong ruột để bảo vệ thuốc. Sau khi đi qua dạ dày, màng bao sẽ tan rã tại ruột non, PPI được hấp thu vào máu nơi chúng có thời gian bán thải tương đối ngắn, khoảng 1-1,5 giờ. Hiệu quả của PPI kéo dài hơn nhiều khoảng thời gian này, do chất chuyển hóa có hoạt tính liên kết không thuận nghịch với bơm proton H+/K+-ATPase ở tế bào viền, ngăn cản sự bài xuất của các ion H+ vào dịch vị trong 10-14 giờ. Tác dụng ức chế tiết acid của PPI cần ít nhất sau 5 ngày để đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, đây là tác dụng không hoàn toàn; khoảng 1/4 số bơm proton trong mỗi tế bào viền vẫn hoạt động ngay cả khi dùng liều cao PPI.

Sự khác nhau trong quá trình hoạt hóa của các PPI:

Quá trình hoạt hoá các PPI thì giống nhau nhưng tốc độ hoạt hoá thì hoàn toàn khác nhau. Tốc độ ion hóa cũng là tốc độ hoạt hóa- phụ thuộc vào pKa2 & pH của môi trường. Các PPI có pKa từ 3,6 – 5,0.
Rabeprazole có pKa cao nhất (pKa= 5) so với các PPI khác nên tỉ số này có giá trị lớn nhất. Do vậy, rabeprazole có tốc độ hoạt hóa nhanh nhất.

Vì thế, đáp ứng của rabeprazole sau liều đầu tiên nhanh hơn so với các PPI khác(1,4). Tác dụng này đã được chứng minh trên cả in vivo & in vitro. Trong một nghiên cứu được tiến hành trên tế bào dạ dày heo, tương tự tế bào dạ dày người. Kết quả cho thấy rabeprazole có tác dụng ức chế bơm proton 100% chỉ sau 5 phút & kéo dài suốt 45 phút của quá trình nghiên cứu. Omeprazole chỉ ức chế được 43% sự tiết acid vào giai đọan đầu & phải sau 45 phút ủ với tế bào thì sự ức chế tiết acid đạt 83%.

Gastrin là hormon kích thích tế bào viền tiết acid dịch vị. Khi PPI ức chế sản xuất acid dịch vị, gastrin sẽ được giải phóng nhiều hơn để chống lại sự giảm acid của dạ dày. Gần đây, một số nghiên cứu gợi ý rằng khi ngừng sử dụng PPI, cơ thể sẽ tiếp tục sản xuất gastrin với lượng cao hơn so với trước khi điều trị, gây hiện tượng tăng tiết acid hồi ứng.

Cường độ ức chế bơm proton sau liều đầu tiên của các PPIs:

Sự khác nhau giữa các PPI trong quá trình chuyển hóa. Các PPI bị chuyển hóa thành dạng mất hoạt tính nhờ men Cytochrom P450 (CYP) 2C19 ở gan. Dân số chịu tác động của men này được chia thành 3 nhóm: nhóm chuyển hóa rất nhanh, nhóm chuyển hóa nhanh hay vừa, nhóm chuyển hóa kém (có ít CYP 2C19 ở gan).

Omperazole chịu ảnh hưởng tác động của CYP 2C19 nhiều nhất; ít nhất là rabeprazole & lansoprazole. Trong nhiều nghiên cứu, người ta tính được tỉ số nồng độ thuốc trong huyết tương của người chuyển hóa kém so với người chuyển hóa rất nhanh là 6 đối với omeprazole & là 2 đối với rabeprazole.

Vì vậy, sự khác biệt về tác dụng giữa các cá thể của omeprazole là lớn nhất; ít hơn là rebeprazole & lansoprazole. Điều này đã ảnh hưởng đến liều dùng của omeprazole trên lâm sàng: một số bệnh nhân kiểm soát triệu chứng với liều 20mg/1lần/ngày, trong khi đó có người cần 60 mg, thậm chí 80 mg/1 lần/ngày mới kiểm soát được các triệu chứng. Các thuốc có tác dụng thay đổi lớn giữa các cá thể như omeprazole làm khó tiên đoán hiệu quả lâm sàng.

Kết luận

Tuy các PPI có cùng cơ chế tác dụng, nhưng giữa các PPI có nhiều sự khác biệt về mặt dược động học như thời gian tác dụng, mức độ duy trì tác dụng & mức độ đáp ứng với thuốc giữa các cá thể. Nhờ có pKa cao nhất nên rabeprazole được hoạt hóa nhanh hơn & khởi phát tác động nhanh nhất trong các PPI. Đó là yếu tố quan trọng khi bệnh nhân cần giảm nhanh các triệu chứng.

Nhờ ít chuyển hóa qua men CYP 2C19- là men tạo sự khác biệt tác dụng giữa các cá thể nên rabeprazole mang lại khả năng dễ tiên đoán tác dụng hơn omeprazole

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *