Các loại filler NASHA – Rhoda S. Narins, Kavita Mariwalla

Các loại filler NASHA

Nhà thuốc Ngọc Anh – Bài viết Các loại filler NASHA được biên dịch bởi bác sĩ Trương Mỹ Khánh.

Tóm tắt và các nội dung chính
  • NASHAs (non-animal stabilized hyaluronic acids: acid hyaluronic nguồn gốc không động vật) là một loại chất làm đầy an toàn, đáng tin cậy, có khả năng gây dị ứng thấp.
  • Chất làm đầy NASHA là chất làm đầy tạm thời và do đó lý tưởng để sử dụng cho bệnh nhân chưa từng điều trị và cho người mới bắt đầu tiêm vì dễ dàng được tiêm tan bằng hyaluronidase.
  • Loại kỹ thuật tiêm được chọn (rải từng điểm, tiêm theo đường, rẻ quạt, hoặc đan chéo) nên dựa trên vị trí giải phẫu và kỹ năng tiêm.
  • Các khu vực thường tiêm chất làm đầy là má, rãnh mũi má, cằm và môi. Tiêm vào vùng gian mày là chống chỉ định trừ khi tiêm trong da do có nguy cơ hoại tử và gây mù. Tuy nhiên, một số bác sĩ vẫn tiêm khu vực này với kim lớn và tiêm nông, trước khi tiêm có rút ngược piston.
  • Độ sâu của nếp gấp và liều lượng tiêm cần thiết là các yếu tố cần cân nhắc trước khi lựa chọn thương hiệu sản phẩm.
  • Filler NASHA có thể tiêm xếp lớp lên nhau hoặc lên các filler tạm thời khác.
  • Filler (HA) có thể tồn tại từ 3 đến 18 tháng, tùy thuộc vào vị trí và số lượng sản phẩm được tiêm; chúng tồn tại lâu hơn ở những khu vực ít cử động và tồn tại thời gian ngắn hơn ở các khu vực cử động nhiều hơn.
  • Di chứng sau điều trị thường là phù nề và bầm tím chỉ kéo dài vài ngày.
  • Cannulas có thể dùng để tiêm filler HA và giảm bầm.

1. Mở đầu

Năm 1893, việc sử dụng một vật liệu ngoại sinh để làm đầy mô mềm đã được Neuber thực hiện bằng cách cấy mỡ từ cánh tay để sửa chữa các khuyết điểm trên khuôn mặt. Kể từ đó, các chất được sử dụng để làm đầy khuôn mặt đã thay đổi nhanh chóng, bao gồm cả các sản phẩm phân hủy sinh học và không phân hủy. Filler NASHAs là filler phân hủy sinh học tồn tại từ 6 đến 12 tháng. Chương này sẽ review sản phẩm NASHA hiện nay có sẵn trên thị trường Hoa Kỳ và cung cấp các mẹo tiêm cho các vùng phổ biến trên khuôn mặt. Các biến chứng tiềm ẩn sẽ được trình bày, cũng như lời khuyên về cách quản lý kỳ vọng của bệnh nhân.

2. Nền tảng

Năm 1893, việc sử dụng một vật liệu ngoại sinh để làm đầy mô mềm đã được Neuber thực hiện bằng cách cấy mỡ từ cánh tay để sửa chữa các khuyết điểm trên khuôn mặt. Kể từ đó, các chất được sử dụng để làm đầy khuôn mặt đã thay đổi nhanh chóng, bao gồm cả các sản phẩm phân hủy sinh học và không phân hủy. Filler NASHAs là filler phân hủy sinh học tồn tại từ 6 đến 12 tháng. Chương này sẽ review sản phẩm NASHA hiện nay có sẵn trên thị trường Hoa Kỳ và cung cấp các mẹo tiêm cho các vùng phổ biến trên khuôn mặt. Các biến chứng tiềm ẩn sẽ được trình bày, cũng như lời khuyên về cách quản lý kỳ vọng của bệnh nhân.

3. Khoa học cơ bản

HA, hay hyaluronan, là một anion, glycosaminoglycan ưa nước, không lưu huỳnh có nhiều trong mô liên kết. Cấu trúc hóa học của chất này đồng đều trong tự nhiên và thiếu một thành phần protein, cho phép nó có ít hoặc không gây phản ứng miễn dịch khi tiêm. Là một trong những thành phần chính của ma trận ngoại bào, HA ổn định các cấu trúc nội bào và là thành phần của hỗn hợp lỏng có chứa các sợi collagen và các sợi đàn hồi. 1 người nặng 70 kg có khoảng 15 g hyaluronan trong cơ thể, trong đó một phần ba bị thoái hóa và tổng hợp hàng ngày.

HA góp phần vào sự tăng sinh và dịch chuyển của tế bào, cũng như sửa chữa mô. Theo tuổi tác, nồng độ HA trong da giảm, dẫn đến giảm hydrat hóa da, biểu hiện là gia tăng các nếp nhăn và nếp gấp. Hơn nữa, tiếp xúc quá nhiều với tia UVB làm cho các tế bào trong lớp hạ bì ngừng sản xuất HA. Ở dạng tự nhiên, chu kỳ bán hủy của HA là 1 đến 2 ngày và được gan chuyển hóa thành carbon dioxide và nước. Là một hợp chất, nó có thể hấp thụ nước tới 1000 lần trọng lượng phân tử của nó; cơ chế hoạt động của filler chủ yếu thông qua hydrat hóa.

Phân tử HA được ổn định bằng các nhóm liên kết chéo hydroxyl. Chính liên kết chéo này mang lại sự bền bỉ cho sản phẩm và mức độ liên kết chéo là một trong những điểm để phân biệt các sản phẩm NASHA. Do cấu trúc này, đường cong phân hủy của HA không phải là tuyến tính. Thay vào đó, sản phẩm vẫn giữ được tác dụng của nó cho đến khi phức hợp cấu trúc xung quanh phân tử HA bị phá vỡ. Một khi HA không còn cấu trúc phức hợp nữa, hiệu quả sau đó bị mất (Hình4.1). Kết quả là, bệnh nhân thường sẽ đột nhiên nhận thấy sự thay đổi về ngoại hình thay vì suy giảm dần dần theo thời gian. Ngoài ra, bệnh nhân đôi khi cảm thấy họ xấu hơn sau khi tiêm HA so với trước đó; tuy nhiên, đây là một chức năng của bộ nhớ chọn lọc. Vì lý do này, chụp ảnh trước khi tiêm là rất quan trọng. Cũng giống với HA tự nhiên, filler HA có thể được hòa tan ngay lập tức với enzyme hyaluronidase.

Hình 4.1 Đường cong phân hủy của filler NASHA.
Hình 4.1 Đường cong phân hủy của filler NASHA. Lưu ý rằng đường này không phải là tuyến tính, tương quan với các liên kết chéo được sử dụng để ổn định filler trong da. Axit hyaluronic tự do có chu kỳ bán hủy từ 1 đến 2 ngày trong da người.

4. Lựa chọn đúng loại NASHA

Sự khác biệt chính giữa các sản phẩm NASHA thương mại có sẵn trên thị trường Mỹ hiện tại là độ nhớt/cứng/mềm của sản phẩm. Nồng độ HA càng cao, sản phẩm càng cứng và nó càng tồn tại lâu trong mô (Bảng4.1). Hạt càng lớn và nồng độ filler càng lớn, thì hiệu quả làm đầy càng lớn. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải tất cả các HA trong filler đều có liên kết chéo. Một số là HA tự do, phân mảnh, hoặc chỉ có liên kết chéo nhẹ nên gel rất dễ chảy ra khỏi xi lanh. Như đã thảo luận ở trên, liên kết chéo tạo nên độ bền cho sản phẩm và điều này khác nhau giữa các thương hiệu. Ở Restylane, Juvéderm, Voluma và Belotero, 1,4-butanediol diglycidyl ether là tác nhân liên kết chéo, tạo thành các liên kết ether trong chuỗi HA. Ngoài ra, điều đáng nói là không phải tất cả các sản phẩm HA đều được đóng gói ở trạng thái được hydrate đầy đủ. Như đã đề cập trước đó, filler NASHA tạo ra thể tích thông qua hydrat hóa và, vì lý do này, bệnh nhân thường sẽ trông đẹp hơn hoặc đầy hơn 24 giờ sau khi điều trị bằng các sản phẩm như Restylane, không hoàn toàn bão hòa khi còn trong ống tiêm. Do đó, phải thận trọng không được làm đầy quá mức khi sử dụng các sản phẩm NASHA.

Tên thương mại Nồng độ hyaluronic acid (mg/ml) Kích thước hạt (μm)
Restylane Silk 20 ~ 260
Restylane Lyft 20 ~ 1000

Bảng 4.1 Nồng độ axit Hyaluronic của các sản phẩm NASHA thương mại có sẵn

Các sản phẩm đều ở dạng hạt. Kích thước hạt của filler được chỉ ra ở trên, lần lượt là: Radiesse (25–45 μm), Artefill (trên 30–50 μm), Sculptra (40–60 μm) và Dermalive (20–120 μm).

5. Đánh giá bệnh nhân

Trước khi tiêm với bất kỳ chất làm đầy nào, cần khai thác tiền sử bệnh nhân cẩn thận. Tiền sử cần chú ý bao gồm tiền sử nhiễm virus herpes simplex, có thai hoặc cho con bú, tiền sử hình thành sẹo lồi, bệnh tự miễn và dị ứng với lidocaine vì hầu hết các filler hiện nay được pha sẵn lidocaine (Hộp 4.1). Tiền sử sử dụng thuốc nên bao gồm sử dụng vitamin tổng hợp, dầu cá, vitamin E, thuốc chống đông máu, aspirin, ibuprofen và Gingko biloba vì tất cả thuốc này khiến BN dễ bị bầm hơn. Trừ khi cần thiết, bệnh nhân nên được khuyên nên ngừng các loại thuốc này 14 ngày trước khi điều trị. Ngoài ra, sử dụng rượu trong vòng 48 giờ sau khi tiêm có thể tăng xu hướng bầm tím.

Hộp 4.1: Sản phẩm NASHA pha sẵn lidocaine
  • Restylane
  • Restylane Silk
  • Restylane Lyft

Nếu bệnh nhân đã tiêm filler trong quá khứ, cần phải khai thác được tiêm cách đây bao lâu, vị trí tiêm, và bệnh nhân có hài lòng với kết quả hay không. Ngoài ra, chụp hình trước điều trị là điều bắt buộc. Thường chụp ít nhất ở ba góc nhìn: phía trước, góc nghiêng xéo bên trái và bên phải. Nếu một bệnh nhân đã tiêm ở 1 khu vực thì nên chụp cận cảnh khu vực đó.

Phải có sự đồng thuận của bệnh nhân, và BN nên biết được chi phí trước khi thực hiện thủ thuật. Chúng tôi cũng khuyên rằng sự bất đối xứng trên khuôn mặt nên được thảo luận trước với bệnh nhân và ghi nhận trong biểu đồ. Từ quan điểm của bác sĩ, cần thông báo cho công ty bảo hiểm về ý định sử dụng filler vì có nhiều cách sử dụng off-label.

6. Chuẩn bị bệnh nhân

Bệnh nhân nên được yêu cầu tẩy trang, và các khu vực cần tiêm nên được làm sạch bằng cồn hoặc dung dịch làm sạch da không làm bẩn da. Nếu có bất kỳ khu vực nhiễm trùng thì nên hoãn việc tiêm lại. Nên đánh dấu khu vực tiêm bằng bút chì kẻ mắt màu trắng hoặc bút vẽ có thể xóa được. Dung bút vẽ màu tím có thể tạo ra vết xăm chấn thương nếu kim được đâm xuyên qua đường vẽ. Bệnh nhân nên ở tư thế ngồi hoặc ngả để thoải mái, và để các nếp gấp được tự nhiên. Vì lý do này, không nên để bệnh nhân nằm xuống vì điều này có thể làm thay đổi các đường nét tự nhiên của khuôn mặt. Tóc nên được kéo lại bằng băng đô hoặc được che phủ bằng nón phẫu thuật. Bác sĩ có thể sử dụng thuốc tê bôi hoặc tại chỗ trước khi tiêm. Nếu sử dụng thuốc tê bôi thì phải lau sạch tê trước khi tiêm. Tùy thuộc vào thuốc tê bôi và thời gian ủ tê, xung huyết da có thể xảy ra và có thể dẫn đến tăng chảy máu tại các vị trí tiêm.

Ghi chú 1
Nếu sử dụng thuốc tê bôi phối hợp, chẳng hạn như Betacaine Lidocaine Tetracaine (BLT) (7% betacaine, lidocaine 7% và 7% tetracaine) hãy chắc chắn theo dõi lượng diện tích da được bôi thuốc vì nồng độ thuốc cao trên diện tích rộng có thể gây ngộ độc.

7. Bác sĩ cần chuẩn bị gì?

Cần vẽ lại sơ đồ khuôn mặt để ghi lại chính xác nơi tiêm filler và nhãn từ mỗi ống tiêm nên được đưa vào hồ sơ bệnh nhân để truy xuất nguồn gốc. Để lường trước tác dụng phụ, bác sĩ nên mang sẵn hyaluronidase trong trường hợp tắc động mạch hoặc filler cần được giải ngay lập tức, nitropaste khi da chuyển sang màu tím, và bánh trái thức ăn nếu bệnh nhân bị phản ứng phế vị. Chuẩn bị sẵn kế hoạch cấp cứu nếu tắc nghẽn xảy ra trong một khu vực có thể ảnh hưởng đến thị lực. Nếu bôi tê trước khi tiêm, steroid bôi cũng nên được trữ sẵn trong trường hợp dị ứng tiếp xúc. Cuối cùng, rất hữu ích để có NaCl nồng độ 20% hoặc cao hơn nếu chảy máu quá nhiều tại điểm tiêm, mặc dù hầu hết chảy máu có thể được cầm chỉ với đè ép.

8. Kỹ thuật tiêm

Một số kỹ thuật tiêm filler HA phụ thuộc chủ yếu vào diện tích của khuôn mặt. Năm kỹ thuật chính được minh họa trong Hình 4.2. Mỗi kỹ thuật đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, và tất cả đều đâm kim qua da.

Hình 4.2 kỹ thuật tiêm filler
Hình 4.2 kỹ thuật tiêm filler: (A) tiêm nhiều điểm (serial puncture); (B) tiêm theo đường (linear); (C) tiêm rẽ quạt (fan); (D) tiêm đan xen (cross – hatching)

8.1 Tiêm nhiều điểm (Serial puncture)

Trong phương pháp này (xem Hình 4.2A) mặt vát kim quay lên và tiêm rải từng giọt dọc theo nếp gấp. Bác sĩ có thể phải xoa bóp khu vực để ngăn ngừa sự hình thành nốt sần. Một nhược điểm của kỹ thuật này là phải đâm kim nhiều lần. Khu vực tiêm dung phương pháp này: tiêm vào dưới ổ mắt rồi massage vào vùng góc mắt, sẹo mụn trứng cá, củ môi (Bảng 4.2). Tiêm nhỏ giọt từng điểm phổ biến cho tiêm trên bề mặt da.

Khu vực Kỹ thuật
Nasolabial folds (rãnh mũi má) Tiêm nhiều điểm, theo đường, rẽ quạt hoặc đan chéo, dùng kim nhọn hoặc canula đầu tù
Melolabial folds Tiêm nhiều điểm , rẽ quạt, đan chéo, dùng kim nhọn hoặc canula đầu tù
Jowls (prejowl sulcus and chin)
(Râu rồng, mỡ má dưới, cằm)
Tiêm nhiểu điểm, hoặc đường thẳng
Rẽ quạt, nhỏ giọt, đan chéo; dung canula đầu tù.
Viền môi Tiêm đường thẳng
Củ môi Tiêm điểm

Bảng 4.2. Phương pháp tiêm đề xuất cho từng vùng

8.2 Tiêm đường thẳng (Linear threading)

Bác sĩ quay mặt vát kim lên và và đâm kim vào phía dưới của nếp gấp, tiến kim về phía trước, vừa lui kim vừa bơm thuốc (xem Hình 4.2B). Kỹ thuật này chưa tối ưu cho các nếp gấp sâu hơn vì nó không nâng cấu trúc được. Các khu vực để sử dụng phương pháp này: rãnh mũi má và đường viền hàm (xem Bảng 4.2). Kỹ thuật này cũng dùng canula

8.3 Tiêm rẽ quạt (Fanning)

Mặc dù điểm vào tương tự như kỹ thuật tiêm đường thẳng, trong phương pháp này, kim không được rút ra khỏi da mà được tiêm theo nhiều hướng khác nhau giống như quạt, filler được tiêm vào bên dưới nếp gấp (xem Hình 4.2C). Kỹ thuật này có thể dung canula đầu tù, rất tuyệt vời để làm đầy các nếp gấp sâu bằng cách giải quyết phần nhô ra của vùng da lân cận. Các vùng sử dụng kỹ thuật này: rãnh mũi má, khóe miệng và thái dương (xem Bảng 4.2). Ttiêm tho đường thẳng và tiêm rẽ quạt thường được phối hợp cùng nhau để làm đầy thể tích.

8.4 Tiêm đan xen (Cross-hatching)

Chúng ta sẽ tiêm các đường thẳng song song nhau theo một hướng, và sau đó tiêm chồng các đường song song khác vuông góc với các đường cũ, tạo ra một hệ lưới đan xen nhau bên dưới nếp gấp (xem Hình 4.2D). Mặc dù bệnh nhân sẽ bị đâm kim nhiều lần và dễ bầm tím nhiều hơn, phương pháp này là lý tưởng cho các khu vực cần được làm đầy nhiều. Các vùng được tiêm đan chéo bao gồm: má, vùng mỡ hàm và đường marionette (xem Bảng 4.2).Giống như các kỹ thuật khác, kỹ thuật này cũng dung canula đầu tù.

8.5 Tiêm điểm (Depot)

Thông qua một điểm vào duy nhất, filler NASHA được tiêm 1 nhát bolus duy nhất với mặt vát kim hướng lên trên. Nên massage để filler được tiêm vào tạo hình đẹp thay vì tạo ra một nốt sần. Tiêm sâu có thể tránh được hiệu ứng Tyndall. Các vùng có thể tiêm điểm: má, rãnh cạnh mỡ hàm dưới, cằm, củ môi và nối của nếp nhăn dưới cằm, melolabial (xem Bảng 4.2).

Ghi chú 2 
Kỹ thuật tiêm nên thay đổi tùy theo vùng mặt, độ sâu và mặt phẳng mô của đường vào và cả độ cứng của filler. Kỹ thuật tiêm rẽ quạt và đan xéo hỗ trợ làm đầy rất tốt, nhưng chúng khiến dễ bầm hơn. Tương tự như vậy, kỹ thuật tiêm nhiều điểm cho phép đường tiêm tỉ mỉ chính xác hơn nhưng gây đau đớn cho bệnh nhân. Dùng canula sẽ giảm thiểu bầm tím.

9. Chiến lược điều trị cụ thể tại chỗ

9.1 Rãnh mũi má

Làm đầy rãnh mũi má là một chỉ định được FDA chấp thuận cho tất cả các sản phẩm filler NASHA và là chỉ định phổ biến của tiêm filler. Các nếp gấp, hoặc “rãnh cười”, xảy ra do sự chuyển động của khối mỡ má di chuyển vào giữa và xuống dưới theo tuổi tác, kèm theo là sự mất độ đàn hồi của da. Các nếp nhăn tĩnh có thể xuất hiện trong khu vực này sớm nhất là ở tuổi 30. Khi đánh giá rãnh mũi má, quan trọng là phải lưu ý xem má có nặng hay không.

Nếu má đã sa đáng kể, hoặc nếu bệnh nhân thừa cân, nếp gấp sẽ rất sâu và cần nhiều filler để làm đầy lên. Trong trường hợp này, phải làm đầy má ở vùng cung gò má trước khi làm đầy rãnh. Điều này sẽ giúp nâng và kéo da trở về vị trí sinh lý ban đầu. Đối với bản thân nếp gấp sâu, kỹ thuật tiêm đan xen là kỹ thuật tốt nhất, hoặc tiêm một loại filler chồng lên loại filler khác. (ví dụ: Restylane Silk tiêm chồng lên Restylane Lyft). Đối với nếp gấp nông đến trung bình, có thể chỉ dùng một loại filler, và dùng kỹ thuật tiêm rẽ quạt . Trong trường hợp này, làm đầy má là không cần thiết. Bắt đầu từ điểm phía trên hay phía dưới là vấn đề. Khi tiêm xong, đặt một ngón tay cái đeo găng lên trên nếp gấp và hai ngón tay ở bên trong miệng ở phía bên kia của nếp gấp. Nhẹ nhàng mát xa để đảm bảo rằng không có nốt sần. Filler HA dễ uốn và tạo hình sau khi tiêm.

CASE STUDY 1
Thuyên tắc động mạch?
Một bệnh nhân đến để điều trị rãnh mũi má, độ sâu trung bình. Cô không có tiền sử đáng chú ý, không dùng thuốc, và điều trị lần đầu. Sau khi tiêm tổng cộng 1 mL filler HA vào mỗi bên, bệnh nhân có vẻ hài lòng với kết quả. Cô được yêu cầu chườm lạnh khu vực này trong 10 phút/h trong 3 giờ tiếp theo và được thông báo sẽ có khó chịu nhẹ vào ngày hôm sau, với phù tạm thời. Sáng hôm sau, bệnh nhân báo rằng có 1 vệt xanh đỏ ở đầu mũi, không đau. Cô đến văn phòng, và khi kiểm tra, có vệt xanh tím đỏ sẩm ở đầu mũi. Mặc dù người ta có thể nghi ngờ đã tiêm vào bên trong động mạch, nhưng sự đổi màu chậm cho thấy nguyên nhân có thể là chèn ép động mạch do phù nề và do filler, chứ không phải đã tiêm filler vào bên trong lòng mạch dẫn đến thuyên tắc (mô sẽ trắng và mất màu ngay lập tức). Sử dụng 12 đến 20 đơn vị hyaluronidase, tiêm từ từ vào rãnh mũi, lui nòng trước khi tiêm. Massage nhẹ nhàng để tăng cường hòa tan gel HA. Ngoài ra, áp một lượng nhỏ nitrous lên mũi và khuyên bệnh nhân nên chườm ấm trong 24 giờ tiếp theo. Bệnh nhân nên được đánh giá lại hàng ngày cho đến khi màu sắc trở lại bình thường. Không tiêm filler lại cho đến khi giải quyết hết các triệu chứng.
Ghi chú 3
Nếu bạn thấy nhiều đường nhăn bên rãnh mũi má, khoan hãy làm đầy vì chúng liên quan đến cử động. Làm đầy chúng có thể cải thiện nếp nhăn khi nghỉ ngơi, nhưng chúng sẽ xuất hiện lại thành đường khi cử động.

Điều quan trọng là phải nhớ giải phẫu cơ bản khi tiêm rãnh mũi má. Động mạch mũi chạy gần cánh mũi, cho nên rất nguy hiểm khi tiêm phần trên của rãnh, và phải lui kim để đảm bảo rằng không có máu. Tiêm từ từ với các giọt nhỏ giúp tránh vấn đề này. Điều này sẽ ngăn ngừa tiêm vào trong lòng mạch. Một tác giả sử dụng cannula trong 90% trường hợp.

9.2 Melolabial folds

Theo thời gian, khu vực bên dưới mép miệng sẽ trũng vào, sa xuống khóe miệng, tạo ra các đường melolabial, và góp phần tạo ra jowls. Mất thể tích là do thay đổi cấu trúc xương theo tuổi tác; chủ yếu, khi một người già đi, hàm trên và cằm nhô ra và sự tiêu xương làm giảm chiều cao hàm trên và hàm dưới. Cùng với sự lỏng lẻo của da, kết quả là mặt dưới chảy xệ, đáp ứng tốt với việc sử dụng chất làm đầy. Vị trí này đặc biệt dễ bị bầm tím sau khi tiêm filler, và điều quan trọng là phải xoa bóp khu vực sau khi tiêm để ngăn ngừa u cục. Do nhu cầu hỗ trợ cấu trúc, tiêm rẽ quạt và đan chéo được khuyến khích, cũng như việc sử dụng HA cứng hơn, chẳng hạn như Perlane. Thông thường 0,5 mL là đủ để làm đầy mỗi nếp gấp melolabial, mặc dù số lượng lớn hơn là cần thiết để làm đầy khuôn mặt dưới.

Ghi chú 4
Mặc dù hầu hết bệnh nhân có thể chịu đựng được việc tiêm vào các rãnh mũi má, nếp gấp melolabial có xu hướng nhạy cảm hơn. Hãy xem xét gây tê vùng, sẽ làm tê không chỉ khu vực này mà còn các phần của môi dưới. Sử dụng 0,2 mL lidocaine 1% và tiêm vào rãnh bên cạnh răng tiền hàm thứ hai. Có thể giảm đau trước bằng cách bôi benzocaine 20% (Gel Hurricane) trong 15 giây vào niêm mạc trước khi tiêm.

9.3 Mỡ hàm (Jowls)

Mỡ và mô mềm dọc theo xương hàm dưới che khuất góc cạnh của hàm, được coi là một dấu hiệu của khuôn mặt trẻ trung. Filler HA có thể được sử dụng để làm đầy rãnh trước mỡ hàm, do đó giảm thiểu sự xuất hiện của mỡ hàm. Filler được tiêm vào hàm dưới và dược uốn theo chiều đi xuống quanh viền hàm. Kỹ thuật tốt nhất để sử dụng là tiêm điểm hoặc tiêm đường thẳng. Tiêm filler ở vùng mỡ hàm dưới không chỉ tạo ra một đường xương rõ nét hơn mà còn làm căng vùng da dư ở khu vực dưới cằm. Hãy cẩn thận để không tạo ra ngạnh hàm vuông, nam tính ở một người phụ nữ. Trong số các sản phẩm HA có sẵn, Restylane Lyft được khuyến cáo để điều trị.

Ghi chú 5
Ở bệnh nhân cao tuổi, dây thần kinh đi nông ở khu vực này vì nó chỉ được bao phủ bởi lớp da và cơ mỏng. Do đó, để ngăn ngừa chấn thương thần kinh do đầu kim, hãy chắc chắn đi kim ở phía trên hạ bì hoặc ở lớp bì, nông hơn so với các bộ phận khác của khuôn mặt, do da mỏng ở khu vực jowl.

9.4 Má

Với tuổi tác, cơ vòng mắt mất cả trương lực và khả năng hoạt động như một chiếc đai xung quanh mắt. Sau đó, cơ vòng và mô mềm ở má đều sa xuống. Lão hóa của mặt giữa bị chi phối bởi sự sa trễ của các khối mỡ má (tổng cộng 7 khối), dẫn đến mất độ cong, má sẽ bị phẳng đi, thậm chí là lõm. Làm đầy má có thể dẫn đến làm đầy rãnh mũi má nhưng đòi hỏi phải tiêm sâu trong hạ bì. Nếu sử dụng các sản phẩm NASHA, có thể cần nhiều hơn một ống tiêm. Khi tiêm trong khu vực này, bệnh nhân được yêu cầu mỉm cười để bác sĩ không vô tình tạo ra gương mặt giống sóc chuột. Nên tiêm rẽ quạt và đan chéo và vuốt má về phía thái dương để khuôn mặt trông tự nhiên khi nghỉ ngơi.

Về mặt giải phẫu, BS phải ghi nhớ cấu trúc xương và hình dạng khuôn mặt liên quan đến chủng tộc và giới tính. Điều quan trọng là phải có một cuộc thảo luận với bệnh nhân liên quan đến vùng trũng bên dưới cung gò má vì nhiều người muốn má đầy đặn hơn nhưng không muốn mất đường nét của khuôn mặt. Cần tiêm thành nhiều lớp với filler mềm. Nếu tiêm ở phần trên của má gần vùng dưới mắt, nên sử dụng filler mềm chẳng hạn như Restylane silk. Rãnh lệ hoặc hốc mắt là một khu vực đặc biệt đáp ứng tốt nhất với filler HA. Tiêm giọt nhỏ sâu dưới cơ vòng mắt, dọc theo vành mắt với kỹ thuật tiêm đường thẳng. Cẩn thận để không tiêm quá đầy khu vực này vì nó có thể dẫn đến phù mí mắt và u cục. Không bao giờ sử dụng nhiều hơn 1 mL filler trong khu vực dưới mắt.

Ghi chú 6
Mặc dù có thể làm đầy má bằng cách tiêm trong khoang miệng, nên thận trọng, do vi khuẩn cư trú trong miệng. Biofilm có thể tạo ra dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng. Những tác giả này đề nghị tiếp cận qua da khi sử dụng HA hoặc bất kỳ sản phẩm filler nào khác.

9.5 Môi

Lúc 20 tuổi, thể tích môi đã đạt đến độ dày đỉnh điểm ở cả nam và nữ và bắt đầu giảm vào những năm 30 tuổi. Ngoài môi, đường viền có xu hướng mỏng đi, khóe miệng bắt đầu sa xuống dưới, và các nếp nhăn xuất hiện ở da môi trên và dưới. Đỉnh nhân trung cũng không nên bỏ qua. Hãy nhớ rằng nhân trung không phải là nhhững đường thẳng đứng, mà 2 đường nhân trung tạo thành 1 góc về phía trụ mũi từ mỗi đỉnh của cung cupid, vì vậy phục hồi nên được định hình cho phù hợp. Tiêm môi là một quá trình tạo hình và nên được thực hiện với Restylane Silk chứ không phải là các sản phẩm HA mềm hơn. Thông thường phong bế thần kinh dưới ổ mắt và gây tê vùng là cần thiết cho sự thoải mái của bệnh nhân, nhưng cần phải tiến hành tiêm nhanh chóng sau khi tê vì tê sẽ làm thay đổi vị trí của môi. Ngoài ra, khu vực này sẽ sưng đáng kể và chảy máu nhiều hơn các khu vực khác, điều này có thể khiến bác sĩ sửa chữa quá mức một chỗ để đáp ứng với phù nề thay vì làm đầy thể tích đúng như cần thiết. Với những trường hợp môi không đối xứng, cũng như có sẹo, sẽ làm cho việc tiêm filler khó khăn hơn. Tiêm filler môi trong ba vùng: (1) làm đầy thể tích bên trong cơ môi, (2) tiêm đường thẳng ở viền môi và (3)tiêm nông ở các nếp nhăn. Tiêm viền môi sẽ tạo ra đường viền, hình dạng và tạo độ nâng cho môi. Xác định bờ trắng ở viền môi, và, bắt đầu từ khóe miệng, đâm kim và di chuyển thẳng tới phía trước. Lặp lại ở phía bên kia, đảm bảo lấp đầy đỉnh cupid. Tiêm viền môi quá liều sẽ tạo thành hình dạng môi giống mỏ vịt (platypus- like).Sau khi làm đầy đường viền (thông thường sẽ tạo hiệu ứng nâng môi lên và làm đầy môi), nên tiêm giọt vào củ của môi trên và dưới để môi phồng rõ rệt hơn.

CASE STUDY 2
Tôi chỉ muốn làm đầy môi trên
Bệnh nhân nữ 56 tuổi đến tiêm filler môi. BN than phiền nhiều về môi trên, đã bị teo theo thời gian, và khăng khăng rằng không muốn lấp đầy môi dưới vì BN hài lòng với nó. Khi kiểm tra, nhân trung đã phẳng ra theo lão hóa bình thường và môi trên giảm thể tích đáng kể so với môi dưới. Mặc dù cần xem xét yêu cầu của bệnh nhân, nhưng cũng cần hướng dẫn chuyên môn để bệnh nhân không thất vọng với kết quả cuối cùng.Mặc dù bệnh nhân nhấn mạnh rằng filler chỉ được tiêm ở môi trên hoặc dưới, nhưng cần phải duy trì tỷ lệ môi để kết quả trông tự nhiên nhất có thể. Môi dưới phải luôn đầy hơn môi trên. Tỷ lệ lý tưởng của môi trên và môi dưới là 1: 1,6, theo tỉ lệ Fibonacci. Phải đề cập điều này với bệnh nhân để, một khi làm đầy môi trên, thì môi dưới cũng được tiêm một ít filler để duy trì tỷ lệ này.

10. Chăm sóc sau phẫu thuật và quản lý biến chứng

Nói chung, filler NASHA an toàn, hiệu quả và dễ sử dụng. Các biến chứng thường gặp là phù nề và bầm tím. Sau khi tiêm, bệnh nhân được khuyên nên chườm đá khu vực này lên đến 10 phút/h. Có thể dùng túi nước đá tái sử dụng, hoặc dùng túi đựng các viên đá để dễ dàng uốn cong tùy theo khu vực. Ở môi, bệnh nhân được khuyến khích không mím môi hoặc gấp môi, điều này có thể làm filler bị lệch chỗ trong 6 giờ đầu tiên.. Ngày hôm sau, có thể sẽ phù nề thêm khi hydrat hóa xảy ra. Điều này có thể gây đau nhức, có thể được giảm bớt bằng acetaminophen. Bầm tím có thể xảy ra đến 72 giờ sau khi tiêm. Arnica forte có thể được sử dụng để ngăn ngừa bầm tím, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy điều này luôn thành công. Nếu tiêm quá nông sẽ gây hiệu ứng Tyndall và u cục. Cách duy nhất để sửa chữa điều này là tiêm tan bằng hyaluronidase, nhưng cũng sẽ làm tan luôn HA tự nhiên trong biểu bì.

Tiêm lại sau 1 tuần sau khi sử dụng hyaluronidase. Biến chứng tiêm vào trong lòng mạch thì hiếm gặp. Phải lưu ý khi tiêm vùng gian mày (glabella), vì nguy cơ tiêm vào lòng mạch cao và có trường hợp mù đã được báo cáo. Nếu không dùng hết 1 ống tiêm trên 1 bệnh nhân, một vài bác sĩ lưu trữ sản phẩm trong tối đa 6 tháng, dán nhãn với tên của bệnh nhân. Tuy nhiên sau khi tiêm thì không còn đảm bảo ống filler được vô trùng nữa, nên chúng tôi không khuyên bạn làm như vậy.

11. Kết luận

Các sản phẩm filler NASHA là một lựa chọn tốt cho người mới bắt đầu tiêm, bệnh nhân điều trị lần đầu và có lão hóa vừa phải. Sản phẩm trên thị trường khá đa dạng và, một khi được tiêm vào lớp hạ bì trung bình đến sâu thì dễ dàng tạo ra hiệu ứng nâng đỡ. Tiêm filler thành công hay không phụ thuộc vào sản phẩm và kỹ thuật tiêm.

Xem thêm:

Sự hấp dẫn trên khuôn mặt và vai trò chính của thể tích

Link PDF của bài viết: SOFT TISSUE AUGMENTATION-chương 3 & 4

Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here