Sự hấp dẫn trên khuôn mặt và vai trò chính của thể tích

Nhà thuốc Ngọc Anh – Bài viết Sự hấp dẫn trên khuôn mặt và vai trò chính của thể tích được biên dịch bởi bác sĩ Trương Mỹ Khánh.

1. Mở đầu

Vấn đề mà các bác sĩ đang phải đối mặt là giờ đây chúng ta có thể tác động tích cực đến diện mạo của bệnh nhân theo những cách mà trước đây chưa từng làm được. Để đảm nhận trách nhiệm đó, chúng ta cần hiểu kết quả mong muốn là gì. Trọng tâm của điều này là phải hiểu “đẹp là gì”, vì có sự nghi ngờ về kết quả đẹp cuối cùng. Để quản lý bệnh nhân thành công, chúng ta phải hiểu tại sao vẻ đẹp tồn tại, tại sao nó quan trọng với bệnh nhân. Ngoài ra, chúng ta cần giải quyết khái niệm về vẻ đẹp phổ biến của các dân tộc.

2. Sự tồn tại của vẻ đẹp

Có thể cho rằng, vẻ đẹp là bẩm sinh và chính là sự sống còn. Bằng cách nhận biết những gì tốt và tệ cũng như đẹp và xấu xung quanh chúng ta, chúng ta có thể chọn điều tốt (hoặc đẹp) và tránh điều tệ hoặc có hại (xấu xí)

Nhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau đã nghiên cứu sự hấp dẫn và vẻ đẹp: tâm lý học, thần kinh, sinh học, hành vi con người, nhân chủng học, nha sĩ và bác sĩ chỉnh nha, bác sĩ da liễu và bác sĩ phẫu thuật, cũng như các chuyên ngành khác đều tiếp cận chủ đề này từ những quan điểm của riêng họ

Sự hấp dẫn có vẻ là xa xỉ, là chuyện không quan trọng, nhưng với triển vọng về một cuộc sống trọn vẹn hơn được nâng cao hoàn toàn bởi việc đẹp hay không đẹp, rõ ràng nó có một chức năng quan trọng.

Ghi chú 1
Đánh giá nét đẹp là một kỹ năng bẩm sinh của con người, với sự tham gia của tất cả giác quan nhưng thị giác chiếm ưu thế.

Cho rằng thị giác của chúng ta là mạnh nhất, nhưng không có gì ngạc nhiên khi sự đánh giá khuôn mặt diễn ra nhanh chóng, hiệu quả, và thậm chí tinh tế hơn, là một phần rất quan trọng trong việc lựa chọn bạn đời. Vì vậy, tối đa hóa sự hấp dẫn trên khuôn mặt là điều quan trọng nhất trong tâm trí của tất cả bệnh nhân. Mặc dù cử động và các mô liên quan đến bề mặt chắc chắn quan trọng cho một khuôn mặt đẹp, nhưng có thể nói rằng thể tích là quan trọng nhất. (Hình 3.1)

HÌNH 3.1: khuôn mặt đẹp
HÌNH 3.1: khuôn mặt đẹp

Thể tích là trung tâm trong trẻ hóa và cải thiện khuôn mặt ở mọi lứa tuổi, và đóng một vai trò cốt lõi trong các góc nhìn khi đánh giá vẻ đẹp khuôn mặt.

Việc đánh giá vẻ đẹp và nhận dạng khuôn mặt của người khác chỉ mất một phần nhỏ giây.Các phản ứng của não đối với vẻ đẹp khuôn mặt đã được nghiên cứu rộng rãi.Chụp cộng hưởng từ (MRI) cho thấy nét đẹp dẫn đến hoạt động sóng não được lan rộng có liên quan trực tiếp đến mức độ hấp dẫn trên khuôn mặt.Trong một nghiên cứu khác, nếu một người bị phân tâm bởi một khuôn mặt hấp dẫn khi đang thực hiện nhiệm vụ, thì người đó sẽ mất nhiều thời gian hơn, ngay cả khi nó ở bên ngoài tầm nhìn trực tiếp. Nói cách khác, vẻ đẹp khuôn mặt tự động cạnh tranh với bất kỳ nhiệm vụ nào khác mà chúng ta đang làm.

Ghi chú 2
Mặc dù chúng ta đánh giá vẻ đẹp rất nhanh, nhưng cơ chế chính xác vẫn còn khó hiểu.

Câu hỏi là: Những nguyên tắc nào làm nền tảng cho sự hiểu biết về cái đẹp?

Sự hấp dẫn tổng thể của một cá nhân không hoàn toàn giống với vẻ đẹp khuôn mặt. Sự hấp dẫn là một tổng thể bao gồm cách một người di chuyển, ngoại hình cân đối, và cách thể hiện bản thân, phát ra âm thanh hoặc suy nghĩ. Nó có thể liên quan đến quyền lực hoặc sự thành công của họ, đến danh tiếng mà họ có, cách họ liên hệ với những người khác, và nhiều khía cạnh khác liên quan đến việc tạo nên một cá nhân như họ.

Sức hấp dẫn ở con người chắc chắn không chỉ giới hạn ở khuôn mặt. Một yếu tố quyết định sự hấp dẫn và vẻ đẹp của phụ nữ là đường cong ogee. Đường cong này chỉ đơn giản là một độ lồi, theo sau là một độ lõm, được đánh giá cao nhất qua ví dụ về đường cong cổ điển của những năm 1950, trong đó chúng ta thấy một phần lồi ở hai bên của độ lõm ở vòng eo.Tỷ lệ eo – hông (WHR) là một trong những khía cạnh hấp dẫn nhất của sự hấp dẫn trên cơ thể. Tuy nhiên, trọng tâm của chương này là nói cụ thể hơn về vẻ đẹp khuôn mặt phụ nữ và vai trò của thể tích, và ở đây chúng ta thấy rằng các đường cong ogee (hình 3.2), thể tích đầy đặn là dấu hiệu cho sự trưởng thành giới tính ở độ cong của gò má cao, điểm nối mí mắt – má, môi và lông mày.

Hình 3.2: Sơ đồ đường cong ogee lấy ở phần tiếp giáp mí mắt - má, xương gò má cao và bên dưới lõm vào.
Hình 3.2: Sơ đồ đường cong ogee lấy ở phần tiếp giáp mí mắt – má, xương gò má cao và bên dưới lõm vào.

3. Vai trò của thể tích trong đánh giá một khuôn mặt đẹp

Thể tích khuôn mặt mang lại cho khuôn mặt hình dạng đặc trưng và là một khía cạnh nổi bật của vẻ đẹp. Đây là khái niệm làm nền tảng cho phần lớn những gì chúng ta cảm nhận về sự đối xứng và các dạng hình học hấp dẫn trên khuôn mặt. Hình dạng này dao động theo sự tăng, giảm cân, và theo tuổi tác khi các mô tăng hoặc giảm thể tích ở một số khu vực, do đó khuôn mặt trẻ sẽ tròn hơn (Hình 3.3) hoặc khuôn mặt lão hóa sẽ vuông hoặc góc cạnh hơn.

HÌNH 3.3 Hình dạng khuôn mặt trước (A) và sau (B) giảm cân, cho thấy sự thay đổi từ tròn sang bầu dục.
HÌNH 3.3 Hình dạng khuôn mặt trước (A) và sau (B) giảm cân, cho thấy sự thay đổi từ tròn sang bầu dục.
Ghi chú 3
Thể tích đóng vai trò quan trọng trong nhiều chỉ số về sự trẻ trung, sự trưởng thành, sức hấp dẫn, sự cân xứng và sự khác biệt về giới tính.

Thể tích đóng vai trò quan trọng trong tất cả các lớp trên khuôn mặt, từ nền xương và răng cho đến cơ, mỡ và các lớp bề mặt của da. Hầu hết sự mất thể tích xảy ra sâu sắc với sự tiêu xương xung quanh và trong các lỗ lớn trên khuôn mặt. Các hố mắt mở rộng, và hố lê (Hình 3.4) mở rộng, làm cho nền mũi dịch chuyển ra sau với sự rủ xuống của mũi và rãnh mũi má sâu hơn.

Hình 3.4: Các khu vực của khung xương mặt bị tiêu xương một cách chọn lọc với quá trình lão hóa, với kích thước của các mũi tên cho thấy xu hướng tiêu xương tương đối
Hình 3.4: Các khu vực của khung xương mặt bị tiêu xương một cách chọn lọc với quá trình lão hóa, với kích thước của các mũi tên cho thấy xu hướng tiêu xương tương đối
Ghi chú 4
Xương và răng hỗ trợ định dạng khuôn mặt và cấu trúc của các cơ bên trên và teo lại theo tuổi tác và trong quá trình nhai.

Thể tích răng và thể tích xương hàm trên và hàm dưới giảm dần. Kết quả là hình chiếu mặt trước của vùng quanh mắt, vùng giữa mặt, mũi, vùng quanh miệng và cằm đều sụp xuống. Sự giảm thể tích của các cơ nhai lớn (đặc biệt là cơ cắn) và thay đổi ở hàm dưới, đặc biệt là ngành lên, ngành ngang và thân xương hàm dưới ngắn lại, cũng góp phần làm cho góc hàm dưới ngày càng tù. Điều này ở tuổi già khiến nhan sắc giảm dần, với sự thay đổi hình dạng khuôn mặt làm cho phần mặt dưới suy yếu.

Ghi chú 5
Các cơ nhai (đặc biệt là cơ cắn và cơ thái dương ) mất thể tích trong quá trình lão hóa.

Các phần mỡ riêng biệt trên khuôn mặt (Hình 3.5) ở cả lớp bề mặt và lớp sâu có các túi mỡ xác định được ngăn cách bằng các dây chằng giữ. Các dây chằng giữ chính, chẳng hạn như dây chằng hàm dưới và dây chằng gò má, không thay đổi chiều dài đáng kể theo thời gian. Các vùng và tỷ lệ trên khuôn mặt cân bằng dễ dàng khi còn trẻ và khi các tính năng hoạt động tối ưu. Khi già đi hoặc các tính năng hoạt động kém phát triển, thì các dây chằng giữ sẽ bị quá tải dẫn đến thể tích thay đổi hoặc chảy xệ, các nếp gấp sẽ sâu hơn.

Hình 3.5: Sơ đồ phân bố mỡ.
Hình 3.5: Sơ đồ phân bố mỡ.
Hình (A) Các khối mỡ nông: A, Inferior jowl fat. B, Infraorbital fat. C, Lateral cheek fat. D, Medial cheek fat. E, Middle cheek fat. F, Nasolabial fat. G, Superior jowl fat.
A, mỡ hàm dưới. B, Mỡ dưới ổ mắt. C, mỡ má bên. D, mỡ má Medial. E, mỡ má giữa. F, mỡ mũi môi . G, Mỡ hàm nông.
Hình (B) Các khối mỡ sâu: A, Buccal fat. B, Deep medial cheek fat. C, Lateral suborbicularis oculi fat. D, Medial suborbicularis oculi fat.
A, mỡ má miệng. B, Mỡ má sâu. C, mỡ dưới hốc mắt bên. D, mỡ dưới hốc mắt giữa.
Ghi chú 6
Hầu hết các dây chằng giữ chính tạo ra các rãnh sâu trên khuôn mặt khi khuôn mặt đổ ra phía trước và vào trong theo tuổi tác.

Các khối mỡ trên khuôn mặt dường như được phân lớp hai lớp, gồm khối mỡ nông và sâu (Bảng 3.1). Các khối mỡ sâu giúp các cơ biểu cảm khuôn mặt và cơ nhai trượt lên nhau, nhưng với sự lão hóa, các lớp mỡ ở giữa mặt di chuyển vào trung tâm với sự thay đổi phía dưới bên trong từng khối mỡ. Điều này đã dẫn đến việc tiêm sâu trở nên phổ biến, mục đích để gia tăng thể tích các phần sâu ở dưới và tái tạo lại các khối mỡ, và sẽ làm cho khuôn mặt đẹp hơn

Ghi chú 7
Các khối mỡ mặt gồm 2 lớp nông và sâu, lớp sâu đặc biệt dễ bị teo khi lão hóa.

Việc làm đầy các khối mỡ bị teo giúp trẻ hóa khuôn mặt. Ví dụ, lớp mỡ sâu quanh hốc mắt bị teo đi theo tuổi tác tạo ra một vết lõm hình chữ V giữa mí mắt giữa và vùng má, tạo ra những hố dưới ổ mắt, và tạo ra ranh giới rõ ràng hơn giữa mí mắt và má. Do đó, việc làm đầy các lớp mỡ sâu bên dưới cơ vòng mắt hoặc lớp mỡ giữa má bằng cách tiêm sâu trên màng xương sẽ cải thiện được rãnh lệ (tear trough)

Ghi chú 8
Hình dạng khuôn mặt nhìn từ phía trước khi còn trẻ, không phân biệt chủng tộc, phải là hình bầu dục ở nữ giới, và hình dạng góc cạnh sắc nét ở nam giới.

4. Hình dạng khuôn mặt

Khuôn mặt có nhiều dạng, nhưng cần phải dễ nhìn ở mọi góc nhìn, kể cả lúc thư giãn; chẳng hạn độ lượn cong của má sẽ thấy rõ nét đẹp hơn ở góc nghiêng và nhìn từ phía bên.

Chúng ta sẽ bắt đầu với góc nhìn từ trước ( anteropsterior – AP) bởi vì đây là góc nhín mà chúng ta thấy chủ yếu trong gương và khi trò chuyện. Phải nhớ rằng chụp ảnh và tạo dáng thường không chụp từ phía trước mà là nhiều góc khác nhau. Nhìn từ mặt trước, thể tích quyết định đường viền, hình dạng, sự đối xứng và chiều rộng của tổng thể khuôn mặt.

Hình dạng khuôn mặt là nền tảng cho sự hấp dẫn, là biểu hiện của tuổi trẻ, và chỉ thị giới tính. Ở phụ nữ, nhìn vào mặt từ phía trước, đường viền khuôn mặt nên gần giống với hình bầu dục đều đặn. Hình bầu dục này là sự kết hợp của xương, bên trên là các mô mềm.

Đường hình bầu dục bắt đầu ở trán và cong khá liền mạch xung quanh đường viền khuôn mặt, đi qua thái dương, má ngoài, vùng trước tai, góc hàm, đường viền hàm và kết thúc ở cằm. Bờ của các bộ phận mà đường viền này đi qua phải nằm trên đường viền, không được thụt vào hoặc vượt ra khỏi đường bầu dục. (Hình 3.6)

Hình 3.6 Các bộ phận trên khuôn mặt nằm trên đường viền hình bầu dục.
Hình 3.6 Các bộ phận trên khuôn mặt nằm trên đường viền hình bầu dục.
Ghi chú 9
Khuôn mặt nữ hấp dẫn có đường viền hình bầu dục đi liền mạch chạm vào thái dương, má, góc hàm và đường viền hàm rồi đến cằm.

Hình dạng khuôn mặt này là một tiêu chuẩn vẻ đẹp rất giống nhau ở tất cả các dân tộc và là một yếu tố quyết định mạnh mẽ về nhận thức tuổi tác. Các dạng khác là hình trái tim hoặc lá trầu không, nhưng đây chỉ khác ở nửa trên của hình bầu dục chứ không khác với những phần bên trong hình bầu dục. Tuy nhiên, không phải tất cả đều đồng ý với lập trường này, nhưng tất cả sẽ đồng ý rằng hình dạng khuôn mặt của phụ nữ nên rộng ở nửa trên, thon nhọn dần đến cằm, không có độ sắc nét góc cạnh. Khuôn mặt sẽ góc cạnh dần khi phụ nữ trưởng thành, khoảng 25 tuổi, sẽ tiến triển nhanh hơn vào tuổi trung niên và về sau. Điều này nam tính hóa khuôn mặt, làm cho nó kém hấp dẫn hơn.

Khi trẻ, khuôn mặt béo được chấp nhận với các mô mỡ quá khổ được các dây chằng giữ gọn. Tuy nhiên, nếu tăng cân quá mực thì các khối mỡ này sẽ phì đại theo tuổi tác dẫn đến khuôn mặt vuông hơn và có nhiều nếp gấp, và trông không thẩm mỹ.

Ở nam giới, khuôn mặt vuông dễ chấp nhận hơn, thậm chí đó là mong muốn, nhưng sự vuông vức này phải có những đặc điểm nhất định. Ở mặt trên, sự đối xứng 2 bên là cần thiết, nhưng khuôn mặt nam được chú ý nhiều nhất ở nửa dưới, với cơ cắn và góc hàm mạnh mẽ (Hình3.7). Những gì không mong muốn là mỡ hàm hoặc thể tích thừa phía sau cơ cắn nằm trên tuyến mang tai.

Một đường viền hàm và cằm vuông mạnh mẽ là hình dạng khuôn mặt nam tính hấp dẫn.

Hình 3.7 Cơ cắn to và góc hàm mạnh mẽ ở mặt nam giới.
Hình 3.7 Cơ cắn to và góc hàm mạnh mẽ ở mặt nam giới.
Ghi chú 10
Khuôn mặt nữ hấp dẫn sẽ có phần trên và giữa rộng hơn phần dưới, trong khi khuôn mặt nam hấp dẫn có xu hướng to hơn ở mặt dưới.

5. Sự đối xứng

Sự đối xứng dường như là biểu hiện trực quan ra bên ngoài của các gen di truyền lý tưởng.

Mặc dù tính đối xứng có thể đề cập đến bất kỳ khía cạnh nào của nét đẹp, chẳng hạn như thay đổi bề mặt hoặc các cử động của khuôn mặt, nhưng chính các hiệu ứng về sự khác biệt của thể tích làm giảm nét đẹp của một người.

Trong một nghiên cứu, chỉ có 6 trong số 21 đối tượng là có sự đối xứng ở mặt trên của họ (bi-zigonial distance) và chỉ có 4 người có đối xứng ở mặt dưới (góc hàm). Chỉ có 3 trong số 21 người có sự đối xứng ở cả mặt trên và mặt dưới. Những người này được chọn ra từ những người phụ nữ đẹp nhất trong lịch sử ở hiện tại và quá khứ – ngôi sao điện ảnh, người mẫu và người chiến thắng cuộc thi.

Ghi chú 11
Ngay cả những người đẹp, cũng có rất ít người có khuôn mặt đối xứng.

6. Tỷ lệ lý tưởng của nét đẹp

Bây giờ chúng ta hiểu rằng: có một khuôn mặt với tỷ lệ lý tưởng là một bước tiến lớn hướng tới vẻ đẹp. Người Hy Lạp cổ đại tin rằng tất cả nét đẹp là toán học, và một trong những khái niệm mạnh mẽ là tỷ lệ vàng. Tỷ lệ này là một cấu trúc toán học cố định ở con số 1.618: 1.

Trong hình học, quan hệ tuyến tính là mối quan hệ mà trong đó chiều dài nhỏ hơn là chiều dài lớn hơn, trong khi chiều dài lớn hơn là đường hoàn chỉnh. Nó xác định các tỷ lệ mà chúng ta thấy hấp dẫn ở trong tự nhiên, kiến trúc, cơ thể con người và khuôn mặt. Tỷ lệ này đã được áp dụng cho các khía cạnh tạo nên khuôn mặt hấp dẫn và đã giúp chúng ta hiểu những gì xác
định một khuôn mặt đẹp.

Swift và Remington đã khám phá ra con số Phi này để minh họa cách tốt nhất để trẻ hóa khuôn mặt trong một khái niệm mà họ gọi là “làm đẹp”.

Thật kỳ lạ khi không gian hai chiều đã được sử dụng rộng rãi để đánh giá vẻ đẹp khuôn mặt và chỉnh sửa tỷ lệ, trong khi tỷ lệ đúng là trong không gian ba chiều. Chiều cao của môi trên và dưới, tỷ lệ của chiều rộng mắt với chiều rộng cung gò má, và tỷ lệ của mũi và răng được đo trong không gian hai chiều nhưng đại diện cho thể tích, một đại lượng trong không gian ba chiều.
Khuôn mặt được chia thành 3 phần ngang và 5 phần dọc là các cấu trúc hữu ích khác để đánh giá khuôn mặt và lập kế hoạch điều trị. Rất có thể là trực giác toán học đã có sẵn trong người chúng ta khi chúng ta đánh giá vẻ đẹp.

7. Các dấu hiệu của trưởng thành

Giới tính này là sự hấp dẫn tự nhiên bẩm sinh đối với giới tính kia. Nó dựa trên sự khác biệt giới tính, hoặc dựa trên những gì khiến cho một người là đàn ông hoặc là phụ nữ.

Các đường cong ogee mềm mại ở phụ nữ và các góc mạnh mẽ ở nam giới là các chỉ số thể tích được hình thành do sự trưởng thành giới tính liên quan đến estrogen và testosterone.

Ở cấp độ cục bộ hơn, khuôn mặt con người có thể dự đoán được mà không có sự sai sót về thể tích. Một trong những bất thường thể tích cục bộ phổ biến nhất mà BS da liễu và bệnh nhân của họ phải đối mặt là sẹo rỗ. Điều này gây ra sự hủy hoại cho bệnh nhân đến nỗi nó là nguồn cơn của trầm cảm và ý nghĩ tự tử. Nó ảnh hưởng xấu đến ngoại hình của bệnh nhân và là một lý do phổ biến để BN tìm đến trị liệu. Điều chỉnh thể tích trong ví dụ sẹo rỗ này là một khía cạnh bị bỏ quên trong điều trị (Hình 3.8).

Hình 3.8 Sẹo mụn trước (A) và sau (B) điều chỉnh thể tích.
Hình 3.8 Sẹo mụn trước (A) và sau (B) điều chỉnh thể tích.
Ghi chú 12
Khuôn mặt hình bầu dục là nét đẹp điển hình toàn cầu không phân biệt chủng tộc, với mỗi cá nhân là một nét đẹp khác nhau.

8. Thể tích khuôn mặt, vẻ đẹp, và dân tộc

Ban đầu các nhà nghiên cứu tin rằng các nền văn hóa khác nhau sẽ tuân thủ các phong cách làm đẹp khác nhau, nhưng điều này có thể không chính xác. Darwin tán thành rằng không có tiêu chuẩn phổ quát cho cái đẹp. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu kể từ những năm 1970 phủ nhận điều này và gợi ý một tiêu chuẩn phổ quát hơn về vẻ đẹp.

Hình dạng khuôn mặt lý tưởng có khác nhau theo dân tộc không? Khuôn mặt hình bầu dục có phải là một cái gì đó mà phụ nữ của bất kỳ dân tộc nào nên khao khát? Có thể khuôn mặt trái xoan mượt mà là điển hình cho vẻ đẹp phổ quát ở phái nữ và khuôn mặt góc cạnh với sự nổi bật của mặt dưới, với đường viền hàm, cằm vuông mạnh mẽ, mũi to và lông mày ngang rậm là điển hình tương tự ở nam giới.

9. Vậy sự khác nhau là ở đâu?

Sự khác nhau của các dân tộc rõ ràng hơn với các bộ phận trên khuôn mặt – mũi, môi, má, mắt, lông mày và cằm – và cách chúng được phân bố trên khuôn mặt.

Người da trắng và Ấn Độ có nét rõ hơn người Đông Á và châu Phi. Độ dày của môi khác nhau giữa các dân tộc. Môi trên thường khá đầy ở phụ nữ Đông Á, môi dưới có xu hướng mỏng hơn một chút. Môi của người da trắng thường mỏng hơn, trong khi ở Tây Á, châu Phi và gốc Tây Ban Nha, tỷ lệ và kích thước thường phù hợp với tỷ lệ vàng.

Một nhóm đồng thuận đã đưa ra một số tuyên bố liên quan đến Đông Á và người da trắng. Một số trích dẫn từ bài báo đó:

  • Người đẹp thuộc mọi chủng tộc có sự tương đồng về đặc điểm khuôn mặt trong khi vẫn giữ được các đặc điểm riêng biệt của từng chủng tộc.
  • Người châu Á không phải là một nhóm đồng nhất mà bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, với mỗi nhóm có đặc điểm khuôn mặt độc đáo riêng.
  • Điều trị để đạt được thẩm mỹ ở người châu Á không nên giống người phương Tây, mà là đạt được nét đẹp của người châu Á, giống như cách người phương Tây làm đầy môi, làm đầy má bên hoặc làm đen da, không nên cố gắng ‘Đông hóa’ ngoại hình của họ khi họ cố gắng trang điểm để che lấp khuyết điểm.

Những tuyên bố này có thể là suy diễn khi mô tả tính phổ quát của vẻ đẹp, với mỗi nhóm chủng tộc hoặc dân tộc có nét đẹp hơn các dân tộc khác. Người da trắng nổi bật hơn với sự phân bố các bộ phận trên khuôn mặt, ở mặt giữa và mặt dưới, trong khi Đông Á và châu Phi có thể có khuôn mặt rộng hơn. Trong mỗi nhóm, cần phải phát huy những điểm đẹp, đồng thời cải thiện các điểm chưa đẹp. Thực sự những người đẹp thuộc bất kỳ dân tộc nào cho thấy những điểm đặc trưng của dân tộc đó. Cho nên, xét về mặt thể tích hình dạng, khuôn mặt hình bầu dục ở nữ và khuôn mặt vuông, góc cạnh ở nam giới được xem là trẻ đẹp ở bất kỳ chủng tộc nào.

10. Kết luận

Trở lại với các câu hỏi được đặt ra ở đầu chương này, cụ thể là:

  • Sự tồn tại của cái đẹp.

Tại sao vẻ đẹp tồn tại trong tự nhiên và ở loài người? Tại sao chúng ta cố gắng nâng cấp vẻ đẹp? Tại sao mọi người muốn đạt được nó? Có gì trong đó cho họ?

Câu trả lời dường như là vẻ đẹp là một kỹ năng được đánh giá cao, có thể là giá trị sống còn. Giá trị sống còn là giữ cho chúng ta an toàn và nhóm gen hiện tại của chúng ta an toàn.

  • Các nguyên tắc mà chúng ta đánh giá vẻ đẹp khuôn mặt.

Một nguyên tắc chính là vị trí của thể tích. Nó cho phép chúng ta nhận ra nhau, phân biệt tuổi tác và giới tính để lựa chọn bạn đời. Sự phân bố khác nhau giữa nam và nữ và sự thay đổi thể tích diễn ra từ lúc nhỏ đến lớn và là các chỉ số về sự trưởng thành giới tính.

Vẻ đẹp nằm trong hình dạng khuôn mặt đẹp, đối xứng, đường cong mượt mà ở một phụ nữ trẻ tuổi; góc cạnh và sắc nét ở người đàn ông trẻ, tỷ lệ khuôn mặt, và sự phân bố thể tích cũng như các bộ phận trên khuôn mặt. Lão hóa làm biến đổi thể tích, theo sau là các dây chằng giữ. Thể tích là chìa khóa quan trọng trong các kiến thức về nét đẹp khuôn mặt.

Xem thêm:

Viêm gan B và thai kỳ – Hannah Lee, MD, Anna SF Lok, MD

Tác dụng Remdesivir trong việc điều trị Covid-19 trên lâm sàng

Link PDF của bài viết: SOFT TISSUE AUGMENTATION-chương 3 & 4

Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

The maximum upload file size: 1 MB. Bạn chỉ được tải lên hình ảnh định dạng: .jpg, .png, .gif Drop file here