PHỤC LINH: Các thử nghiệm kiểm định, bảo quản - Dược Điển Việt Nam 6


PHỤC LINH

27/05/2026
PHỤC LINH

PHỤC LINH

Poria

Bạch linh, Bạch phục linh

Thể quả nấm (còn gọi là củ) được làm khô của nấm Phục linh [Poria cocos (Schw.) Wolf], họ Nấm lỗ (Polyporaceae), mọc ký sinh trên rễ một số loài Thông. Thu hoạch từ tháng 7 đến tháng 9. Sau khi thu hái, loại bỏ đất cát, chất đống cho ra mồ hôi rồi rải ra chỗ thoáng gió cho se bề mặt, tiếp tục chất đống, ủ vài lần cho đến khi khô bớt nước và bề mặt nhăn nheo, phơi âm can đến khô.

Mô tả

Thể quả nấm Phục linh khô: Hình chuông, hình cầu, hình thoi, hình cầu dẹt hoặc hình khối không đều, lớn, nhỏ không đồng nhất, mặt ngoài màu nâu đến nâu đen, có nhiều vết nhăn rõ và lồi lõm. Thể nặng, rắn chắc. Mặt bẻ sần sùi và có vết nứt, lớp viền ngoài màu nâu nhạt, phần trong màu trắng, bên trong có đoạn rễ thông (Phục thần). Nấm phục linh không mùi, vị nhạt. Khi tươi cắn vào dính răng, khi đã khô thì không còn dính. Tùy theo các phần của thể quả nấm mà có tên gọi khác nhau.

Phục linh bì: Là phần vỏ của củ Phục linh tách ra, lớn nhỏ không đồng nhất. Mặt ngoài từ nâu đến nâu đen, mặt trong màu trắng hoặc nâu nhạt. Chất tương đối xốp, hơi có tính đàn hồi. Phục linh tốt là khi bỏ vỏ có màu trắng, chắc. Nếu xốp là củ còn non, không tốt.

Phục linh khối: Là củ Phục linh khi đã bỏ vỏ nhưng chưa thái lát, cắt thành phiến hay miếng, lớn nhỏ không đồng nhất, màu trắng, hồng nhạt hoặc nâu nhạt, khi thái ra gọi là Phục linh phiến.

Bạch phục linh (Bạch linh): Là phần thịt màu trắng ở phía trong của củ Phục linh sau khi bóc bỏ vỏ ngoài.

Xích phục linh: Phục linh khi bỏ vỏ ngoài, phía trong có màu hồng nên gọi là Xích phục linh. Có thể do củ phục linh lâu năm biến thành màu hồng hoặc đỏ hoặc do rễ cây tùng tiết ra chất màu đỏ.

Phục thần: Phục linh khi bỏ vỏ ngoài, phía trong có lõi là một đoạn rễ thông gọi là Phục thần.

Bột

Màu trắng tro. Soi kính hiển vi thấy: Có những khối sợi nấm dạng hạt không đều và những khối phân nhánh, không màu, sợi nấm không màu hoặc màu nâu nhạt, mảnh dẻ, nhỏ, dài, hơi cong, phân nhánh, đường kính 3 µm đến 8 µm, ít khi có sợi nấm đường kính tới 16 µm. Ngâm bột dược liệu trong dung dịch cloral hydrat (TT) khoảng 30 min, sẽ thấy bột tan dần (bột có hiện tượng trong dần).

Định tính

A. Lấy 1,0 g bột dược liệu, thêm 5 ml aceton (TT), đun hồi lưu trên cách thủy 5 min, thỉnh thoảng lắc, lọc. Bốc hơi dịch lọc trên cách thủy đến cạn. Hòa tan cặn trong 0,5 ml anhydrid acetic (TT), thêm 1 giọt acid sulfuric (TT), xuất hiện màu đỏ nhạt, sau chuyển thành màu xanh.

B. Nhỏ 1 giọt dung dịch iod-iodid (TT) lên bột dược liệu sẽ có màu đỏ thẫm.

C. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).

Bản mỏng: Silica gel G.

Dung môi khai triển: Toluen – ethyl acetat – acid formic (20 : 5 : 0,5).

Dung dịch thử: Lấy 1 g bột dược liệu, thêm 50 ml ether (TT), siêu âm 10 min, lọc, bay hơi dịch lọc đến cắn, hòa cần trong 1 ml methanol (TT).

Dung dịch đối chiếu: Lấy 1 g bột Phục linh (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng khoảng 5 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, lấy bản mỏng ra để khô ở nhiệt độ phòng. Phun dung dịch vanilin 2% trong hỗn hợp acid sulfuric – ethanol (4 : 1), sấy bản mỏng ở 105 °C đến khi các vết hiện rõ. Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thứ phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm

Không quá 12,0% (Phụ lục 9.6, 1 g, 105 °C, 5 h).

Tro toàn phần

Không được quá 2,0% (Phụ lục 9.8).

Tạp chất

Không quá 1,0% (Phụ lục 12.11).

Tỷ lệ vụn nát

Tỷ lệ qua rây có kích thước mắt rây 3,150 mm: Không quá 5% (Phụ lục 12.12).

Chất chiết được trong dược liệu

Không dưới 2,5%, tính theo dược liệu khô kiệt.

Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10). Dùng ethanol 50% (TT) làm dung môi.

Chế biến

Lấy Phục linh khô, ngâm vào nước một ngày, rửa sạch, đồ thêm cho mềm, gọt vỏ, cắt thành các khối (miếng) nhỏ hoặc thái lát mỏng lúc đang mềm rồi phơi hoặc sấy khô. Khi dùng sắc với thuốc thang. Hoặc sau khi phơi khô, tán bột, cho vào nước sắc thuốc thang để uống.

Bảo quản

Nơi khô mát tránh ẩm, vụn nát.

Tính vị, quy kinh

Vị ngọt, nhạt, tính bình. Vào các kinh tâm, phế, thận, tỳ, vị.

Công năng, chủ trị

Thẩm thấp, lợi thủy, kiện tỳ, ninh tâm, hòa vị. Chủ trị: Phù thũng, tiểu tiện ít, đái rắt, đàm ẩm, chóng mặt, ù tai, tâm thần không yên đánh trống ngực, tim đập nhanh hồi hộp, mất ngủ, tỳ hư ăn kém, đại tiện phân nát hoặc đi lỏng.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 9 g đến 12 g, có thể dùng 40 g trong một ngày nếu trị phù thũng. Dạng thuốc sắc hoặc tán.

Phục linh bì: Trị phù thũng, trong thực tế ít dùng.

Phục thần: Vào kinh tâm, có tác dụng trấn kinh an thần, điều trị chứng mất ngủ kéo dài.

Xích phục linh: Trị các chứng ngoại cảm do hàn thấp, Xích phục linh hiếm nên trong thực tế ít dùng.

Kiêng kỵ

Người âm hư không có thấp nhiệt thì không nên dùng.

Tài liệu tham khảo

1. Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1498-1499, tải PDF tại đây.

THÔNG TIN TƯ VẤN