LỘC NHUNG
LỘC NHUNG
Cervi Cornu Pantotrichum
Nhung hươu, Nhung huyết
Sừng non có lông nhung và chưa bị xương hóa của con Hươu đực (Cervus nippon Temminck), họ Hươu (Cervidae). Thu hoạch vào mùa xuân, cưa lấy Lộc nhung và tiến hành chế biến để được vị thuốc cần dùng.
Mô tả
Nhung hươu sao (còn gọi là Hoa lộc nhung): Có hình trụ, phân nhánh.
Loại có 1 nhánh phụ thường được gọi là “nhánh đôi”, nhánh chính (nhánh lớn) dài khoảng 17 cm đến 20 cm, đường kính mặt cắt ngang từ 4 cm đến 5 cm; nhánh mọc ra cao hơn mặt cắt khoảng 1 cm được gọi là “nhánh phụ” dài từ 9 cm đến 15 cm, đường kính hơi nhỏ hơn nhánh chính. Lớp da mặt ngoài có màu nâu đỏ hoặc màu nâu, thường bóng, được phủ một lớp lông dày, mềm, có màu vàng đỏ hoặc vàng nâu, phần đầu trên lông dày hơn phần phía dưới, có một gân màu đen xám ở đế giữa nhánh chính và nhánh phụ, da và lông dính sát vào nhau. Mặt cắt có màu trắng hơi vàng, phía ngoài không có xương, phần giữa có nhiều lỗ nhỏ dày đặc. Thể chất nhẹ. Có mùi hơi tanh, vị hơi mặn. Loại có 2 nhánh phụ thường được gọi là “nhánh ba”, nhánh chính dài 23 cm đến 33 cm và có đường kính nhỏ hơn nhánh chính của loại nhánh đôi, hình hơi cong và dẹt, đỉnh hơi nhọn, phần dưới thường có các gân dọc nổi và các u lồi lên. Da có màu vàng hơi đỏ, lông mềm hơi thưa và mập.
Định tính
A. Lấy khoảng 0,1 g bột dược liệu, thêm 4 ml nước, đun nóng 15 min, để nguội, lọc. Lấy 1 ml dịch lọc, thêm 3 giọt thuốc thử ninhydrin (TT), trộn đều, đun sôi vài phút, màu tím hơi xanh xuất hiện. Lấy 1 ml dịch lọc khác, thêm 2 giọt dung dịch natri hydroxyd 10 % (TT), trộn đều, thêm từng giọt dung dịch đồng sulfat 0,5 % (TT), xuất hiện màu tím hơi xanh.
B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: n-Butanol – acid acetic băng – nước (3 : 1 : 1).
Dung dịch thử: Lấy 0,4 g bột dược liệu, thêm 5 ml ethanol 70 % (TT), lắc siêu âm 15 min, lọc, dịch lọc để chấm sắc ký.
Dung dịch dược liệu đối chiếu: Lấy 0,4 g bột Lộc nhung (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.
Dung dịch chất đối chiếu: Hòa tan glycin chuẩn trong ethanol 70 % (TT) để được dung dịch có nồng độ 2 mg/ml.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 8 µl mỗi dung dịch thử và dung dịch dược liệu đối chiếu và 1 µl dung dịch chất đối chiếu. Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được khoảng 12 cm đến 13 cm, lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng, phun dung dịch ninhydrin 2 % trong aceton (TT), sấy ở 105 °C cho đến khi hiện rõ vết. Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết tương đương về vị trí và cùng màu với vết trên sắc ký đồ của dung dịch chất đối chiếu và trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.
Chế biến
Đến tiết lập xuân thì sừng hươu đã mọc đủ 2 chồi (còn gọi là chồi âm và dương), đầu chồi có hình khuyết giống cái yên ngựa (gọi là Nhung yên ngựa) là đầu chồi chuẩn bị phân nhánh hoặc đầu chồi có hình cái dùi đánh trống (gọi là Nhung dùi trống). Ở giai đoạn này gọi là Lộc, Lộc nhung hoặc Nhung huyết. Theo khí lực và độ lớn bé của hươu, tuổi hươu người ta phân lộc hươu thành ba loại là loại 1, loại 2 và loại 3. Nhung loại 1 là loại tốt nhất, được thu hoạch trước hoặc sau tiết lập xuân tùy theo năm đó có nhuận hay không. Một nhánh Nhung có 2 chồi, chồi âm và chồi dương. Mỗi chồi có 4 phần, trên cùng là Nhung huyết, đến Nhung lộc, Nhung sương và Nhung giác là phần cuối chỗ cắt từ đầu nhung ra. Khi cắt lộc nhung phải đảm bảo vô trùng. Cắt dứt khoát và nhẹ nhàng để máu trong nhung không chảy mạnh, không làm giảm chất lượng nhung. Sau khi cắt, treo ngược đầu cắt của lộc nhung để khỏi chảy máu.
Nhung tươi: Nhung sau khi cắt được làm sạch lông, thái lát mỏng để dùng.
Cách làm sạch lông như sau: Lấy Lộc nhung thu trên lửa cồn 90° (cũng có thể thui trên lửa rơm, bếp ga) cho cháy hết lông, cạo sạch chân lông. Sau đó rửa sạch bằng nước đun sôi để nguội hoặc nước sạch đã vô trùng. Thái lát dày khoảng 1 mm để ngâm mật ong, ngâm rượu hoặc nấu cháo.
Lộc nhung ngâm mật ong: Cho nhung đã thái lát vào mật ong ngâm. Một cặp Nhung thường ngâm với 1,5 L đến 2 L mật ong, ngâm 90 ngày.
Lộc nhung ngâm rượu: Cho nhung đã thái lát vào rượu để ngâm, một cặp Nhung thường ngâm với 2 L rượu 40°, ngâm 30 ngày.
Lộc nhung xay: Nếu dùng để nấu cháo, sau khi thái lát xay nhỏ cho vào lọ đậy kín, để vào ngăn đá tủ lạnh hằng ngày lấy ra nấu cháo. Cách này bảo quản được lâu nhưng mất chất, giảm tác dụng.
Nhung khô: Cắt xong, treo ngược nhung rồi làm khô để bảo quản được lâu. Quá trình làm khô rất quan trọng vì ảnh hưởng đến chất lượng của nhung. Có thể làm khô bằng cách sấy khô bằng cát nóng hoặc sấy ở 70 °C đến 80 °C trong tủ sấy đến khô.
Yêu cầu: Nhung khô phải không đen, không teo, không nứt, lông mượt, cắt ra thấy mặt cắt màu hồng đỏ, khi sờ lên có cảm giác như sờ lên miếng sáp (khô, không dính tay).
Cách làm sạch lông nhung khô: Chải ngược lông, lấy thanh sắt nung đỏ lăn trên nhung cho cháy hết lông hoặc lấy cồn 90° tẩm qua đốt cho cháy hết lông.
Nhung khô tán bột: Lấy nhung khô đã sạch lông (có thể tẩm qua rượu), đồ cho mềm (không đồ kỹ quá), thái phiến càng mỏng càng tốt (dùng đến đâu thái đến đó), tẩm chút rượu, sấy nhẹ cho khô (không nên sao), sau đó tán bột để làm thuốc hoàn hoặc ăn cháo hoặc ngâm rượu.
Bảo quản
Nhung ngâm mật ong, ngâm rượu để trong lọ thủy tinh đậy kín, khi dùng rót sang lọ bé dùng hàng tuần, để nơi khô ráo không để vào tủ lạnh.
Nhung tươi để vào ngăn đá bảo quản.
Nhung khô: Bọc vào giấy bản, để trong đồ đựng kín, để nơi khô ráo, có thể lót long não, hoa tiêu hay tế tân để phòng sâu mọt. Bảo quản trong tủ mát sẽ tốt hơn. Nên dùng trong vòng 12 tháng kể từ ngày chế biến.
Tính vị, quy kinh
Vị ngọt hơi mặn, tính ấm. Vào kinh thận, kiêm kinh tâm, can, tâm bào.
Công năng, chủ trị
Bổ nguyên dương, bổ tinh huyết, bổ gan thận, chủ yếu bổ cả thận âm, thận dương, giúp cho cơ thể cường tráng, khỏe mạnh. Chủ trị: Người gầy yếu, mệt mỏi, sinh hoạt tình dục kém, trẻ em còi xương, chậm lớn, phụ nữ mất kinh sớm, lãnh cảm tình dục, bạc tóc sớm. Lộc nhung là một trong hai vị thuốc đầu bảng “Sâm, Nhung” điều trị được nhiều chứng bệnh.
Cách dùng, liều lượng
Lộc nhung ngâm mật ong: Sau khi ngâm 60 ngày rót ra toàn bộ, thêm mật ong ngâm đợt 2. Ngày dùng từ 15 g đến 20 g uống vào buổi sáng sau khi ăn sáng 15 min. Trẻ em dùng 1/2 liều người lớn. Nam, nữ, già trẻ đều dùng được, có thể thái 200 g nhân sâm cho vào dùng càng tốt.
Lộc nhung ngâm rượu: Sau khi ngâm 30 ngày rót ra toàn bộ, cho rượu vào ngâm đợt 2. Ngày dùng 1 lần 30 ml uống vào buổi tối, trước khi ăn hoặc vừa ăn vừa uống. Nhung ngâm rượu dành cho nam giới và người cao tuổi.
Lộc nhung xay, tán bột: Nấu cháo với nhung tươi xay, khi cháo sắp được cho nhung vào đun 5 min, thường một bát cháo đặc 200 ml cho 10 g Nhung tươi xay. Nếu dùng Nhung bột khô thì múc cháo ra bát cho 5 g bột Nhung vào quấy đều, đậy kín, thêm chút muối vào ăn, cả hai loại cháo đều ăn vào buổi sáng.
Kiêng kỵ
Thực nhiệt âm hư dương thịnh không nên dùng.
Người huyết áp cao không được dùng. Lộc nhung ngâm rượu không được dùng cho người béo phì, trẻ em thừa cân so với tuổi.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1430-1432, tải PDF tại đây.
