LIÊN KIỀU (Quả)
LIÊN KIỀU (Quả)
Forsythiae suspensae Fructus
Quả được làm khô của cây Liên kiều [Forsythia suspensa (Thunb.) Vahl.], họ Nhài (Oleaceae). Thu hoạch vào mùa thu. Hái lấy quả gần chín, vỏ ngoài vẫn còn chút màu lục, loại bỏ tạp chất, đồ kỹ, phơi hoặc sấy khô được dược liệu gọi là Thanh kiều. Hoặc thu hái quả chín, loại bỏ tạp chất, phơi hoặc sấy khô được dược liệu gọi là Lão kiều.
Mô tả
Quả hình trứng đến hình trứng hẹp, hơi dẹt, dài 1,5 cm đến 2,5 cm, đường kính 0,5 cm đến 1,3 cm. Mặt ngoài có vết nhăn dọc không đều và nhiều chấm nhỏ nhô lên. Mỗi mặt có một rãnh dọc. Đỉnh nhỏ, nhọn, đáy có cuống quả nhỏ hoặc vết cuống đã rụng. Mùi thơm nhẹ, vị đắng.
Thanh kiều: Quả thường chưa nứt, mặt ngoài màu xanh lục nhạt, chất cứng, nhiều hạt. Hạt có màu vàng lục, nhỏ dài, một bên có cánh.
Lão kiều: Quả đã nứt ra thành 2 mảnh, mặt ngoài có màu nâu hơi đỏ, bên trong màu nâu vàng nhạt, chất cứng giòn. Hạt màu nâu, phần lớn đã rụng.
Vi phẫu
Mặt cắt ngang vỏ quả: Vỏ ngoài là một hàng tế bào biểu bì có phủ một lớp cutin, thành phía ngoài và bên dày dần lên. Vỏ quả giữa gồm tế bào mô mềm ở phía ngoài với các bó mạch rải rác và nhiều hàng tế bào đá ở phía trong, tế bào hình thon dài, hình gần tròn hoặc hình bầu dục, thành dày mỏng không đều, thường xếp theo dạng tiếp tuyến xen kẽ, kéo dài tới vách ngăn dọc. Vỏ quả trong gồm một lớp tế bào mô mềm dẹt và rất nhỏ.
Bột
Bột có màu vàng nâu nhạt đến nâu, mùi rất thơm, vị hơi chát. Dưới kính hiển vi thấy: Mảnh tế bào mô cứng hoặc tế bào mô cứng riêng lẻ gồm các tế bào hình bầu dục, thuôn dài hoặc gần tròn, thành dày, ống trao đổi có thể nhìn thấy rõ hoặc không rõ. Mảnh tế bào vỏ quả màu vàng nhạt (vỏ quả giữa) hoặc vàng nâu (vỏ quả ngoài) gồm các tế bào hình đa giác, thành mỏng. Mảnh mạch vạch có kích thước nhỏ và ít thấy. Khối nhựa màu nâu đỏ. Mảnh nội nhũ gồm tế bào hình đa giác thành mỏng, trong suốt không màu, chứa nhiều giọt dầu béo. Mảnh vỏ hạt tế bào màu nâu đen, nằm rải rác.
Định tính
A. Lấy 1 g bột dược liệu, thêm 15 ml methanol (TT), đun trên cách thủy 2 min, lọc, lấy dịch lọc để làm các phản ứng sau:
Lấy 5 ml dịch lọc, cô đến cắn, hòa cắn trong 1 ml anhydrid acetic (TT) và 1 ml cloroform (TT), khuấy kỹ cho tan, lọc. Cho dịch lọc vào ống nghiệm khô rồi cẩn thận thêm từ từ dọc theo thành ống nghiệm 0,5 ml acid sulfuric (TT). Màu tím đỏ xuất hiện giữa 2 lớp dung dịch.
Lấy 5 ml dịch lọc cho vào ống nghiệm, cho thêm 0,1 g bột magnesi (TT) và 1 ml acid hydrocloric (TT), để yên, sẽ xuất hiện màu từ đỏ nhạt đến đỏ vàng.
B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: Cloroform – methanol (8 : 1).
Dung dịch thử: Lấy 1 g bột dược liệu, thêm 20 ml ether dầu hỏa (30 °C đến 60 °C) (TT), đậy nút, lắc siêu âm 20 min, lọc. Gạn bỏ dung dịch ether dầu. Làm khô cắn trên cách thủy, thêm 20 ml methanol (TT), đậy nút, lắc siêu âm 20 min, lọc. Cô dịch lọc trên cách thủy đến cạn. Hòa cắn trong 5 ml methanol (TT) làm dung dịch thử.
Dung dịch dược liệu đối chiếu: Lấy 1 g bột Liên kiều (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.
Dung dịch chất đối chiếu: Hòa tan forsythin chuẩn trong methanol (TT) để được dung dịch có nồng độ khoảng 0,25 mg/ml.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 3 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi khai triển xong, lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng rồi phun dung dịch acid sulfuric 10 % trong ethanol (TT). Sấy bản mỏng ở 105 °C tới khi các vết hiện rõ. Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết tương đương về vị trí và cùng màu với vết forsythin trên sắc ký đồ của dung dịch chất đối chiếu và phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.
Độ ẩm
Không quá 10,0 % (Phụ lục 12.13).
Tạp chất
Không quá 3,0 % (đối với Thanh kiều), không quá 9,0 % (đối với Lão kiều) (Phụ lục 12.11).
Tro toàn phần
Không được quá 4,0 % (Phụ lục 9.8).
Tro không tan trong acid
Không quá 1,0 % (Phụ lục 9.7).
Chất chiết được trong dược liệu
Không được ít hơn 30 % (đối với Thanh kiều) và không được ít hơn 16,0 % (đối với Lão kiều) tính theo dược liệu khô kiệt.
Tiến hành theo phương pháp chiết lạnh (Phụ lục 12.10). Dùng ethanol 65 % làm dung môi.
Định lượng
Forsythin
Phương pháp sắc ký lỏng (Phụ lục 5.3).
Pha động: Acetonitril – nước (25 : 75).
Dung dịch chuẩn: Hòa tan forsythin chuẩn trong methanol (TT) để được dung dịch có nồng độ chính xác khoảng 0,2 mg/ml.
Dung dịch thử: Cân chính xác khoảng 1,0 g bột dược liệu (qua rây số 180) vào một bình nón nút mài, thêm chính xác 15 ml methanol (TT) và cân. Để yên qua đêm, lắc siêu âm trong 25 min, để nguội và cân lại. Bổ sung khối lượng mất đi bằng methanol (TT), lắc đều, lọc. Hút chính xác 5 ml dịch lọc, cô trên cách thủy đến gần cạn, trộn với 0,5 g bột nhôm oxyd trung tính (TT) rồi chuyển hỗn hợp vào cột thủy tinh (đường kính trong 1 cm đến 1,5 cm) đã nhồi sẵn 1 g bột nhôm oxyd trung tính (TT). Rửa giải bằng 80 ml ethanol 70 % (TT). Cô dịch rửa giải trên cách thủy đến cạn. Dùng methanol 50 % (TT) để hòa tan và chuyển toàn bộ cắn vào bình định mức 5 ml, thêm methanol 50 % (TT) vừa đủ đến vạch, lắc đều, lọc qua màng lọc 0,45 µm.
Điều kiện sắc ký:
Cột kích thước (25 cm × 4,6 mm), nhồi pha tĩnh C (5 µm).
Detector UV 277 nm.
Tốc độ dòng 0,8 ml/min.
Thể tích tiêm 10 µl.
Cách tiến hành:
Tiêm dung dịch chuẩn, tiến hành sắc ký và tính số đĩa lý thuyết của cột. Số đĩa lý thuyết của cột tính trên pic forsythin phải không dưới 3000.
Tiêm lần lượt dung dịch chuẩn và dung dịch thử. Tính hàm lượng forsythin trong dược liệu dựa vào diện tích pic thu được trên sắc ký đồ của dung dịch thử,dung dịch chuẩn, hàm lượng C27H34O11, của forsythin chuẩn.
Dược liệu phải chứa không ít hơn 0,15 % forsythin (C27H34O11), tính theo dược liệu khô kiệt.
Forsythosid A
Phương pháp sắc ký lỏng (Phụ lục 5.3).
Pha động: Acetonitril – dung dịch acid acetic băng 0,4 % (15:85).
Dung dịch chuẩn: Hòa tan forsythosid A chuẩn trong methanol (TT) để được dung dịch có nồng độ chính xác khoảng 0,1 mg/ml (pha trước khi dùng).
Dung dịch thử: Cân chính xác khoảng 0,5 g bột dược liệu (qua rây số 180) vào một bình nón nút mài, thêm chính xác 15 ml methanol 70 % (TT), đậy nút và cân. Lắc siêu âm trong 30 min, để nguội, cân lại. Bổ sung khối lượng mất đi bằng methanol 70 % (TT), lắc đều, lọc qua màng lọc 0,45 μm.
Điều kiện sắc ký:
Cột kích thước (25 cm × 4,6 mm) được nhồi pha tĩnh C (5 μm).
Detector quang phổ tử ngoại đặt ở bước sóng 330 nm.
Tốc độ dòng: 0,8 ml/min.
Thể tích tiêm: 10 ul.
Cách tiến hành:
Tiêm dung dịch chuẩn. Tiến hành sắc ký và tính số đĩa lý thuyết của cột. Số đĩa lý thuyết của cột tính trên pic forsythosid A phải không dưới 5000.
Tiêm lần lượt dung dịch chuẩn và dung dịch thử. Tính hàm lượng forsythosid A trong dược liệu dựa vào diện tích pic thu được trên sắc ký đồ của dung dịch thử, dung dịch chuẩn, hàm lượng C29H36O15 của forsythosid A chuẩn.
Dược liệu phải chứa không dưới 0,25 % forsythosid A (C29H36O15), tính theo dược liệu khô kiệt.
Chế biến
Loại bỏ tạp chất, xát nứt quả, bỏ hạt lấy vỏ hoặc lấy riêng hạt dùng làm thuốc.
Ghi chú: Hiện nay trên thị trường không phân biệt Thanh kiều và Lão kiều như trước đây mà cả 2 loại này nhập làm một. Dùng cả vỏ và hạt để làm thuốc.
Bảo quản
Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô ráo.
Dược liệu đã chế biến: Để trong đồ đựng kín, tránh ẩm mốc, nên dùng trong 30 ngày.
Tính vị, quy kinh
Vị đắng, tính hơi hàn. Vào các kinh phế, tâm, đại trường, tam tiêu, đởm.
Công năng, chủ trị
Thanh nhiệt, giải độc, tán kết, tiêu thũng, bài mủ. Chủ trị: Phong nhiệt cảm mạo, các loại ôn bệnh mới phát, sốt cao, ung nhọt mới phát sưng đỏ tấy đau, sốt, tràng nhạc, tắc tia sữa viêm sưng đau, sốt phát ban.
Theo kinh nghiệm lâm sàng, vỏ Liên kiều thanh nhiệt ở phần khí, hạt Liên kiều thanh nhiệt ở phần huyết, có tác dụng thanh tâm hỏa khi sốt cao tim hồi hộp khó chịu.
Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng từ 12 g đến 16 g, dạng thuốc sắc, tùy chứng trạng của bệnh nhân có thể dùng 20 g. Tán bột làm viên hoàn theo yêu cầu của bài thuốc.
Kiêng kỵ
Nếu âm hư sinh nội nhiệt, mụn nhọt đã vỡ mủ cấm dùng.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1421-1423, tải PDF tại đây.
