CẨU KỶ TỬ họ Cà (Solanaceae) - Dược điển Việt Nam 6


CẨU KỶ TỬ

20/05/2026
CẨU KỶ TỬ

CẨU KỶ TỬ

Lycii Fructus

Quả chín được làm khô của cây Câu kỷ (Lycium barbarum L.), họ Cà (Solanaceae). Thu hoạch vào mùa hè và mùa thu khi quả đã chuyển màu đỏ vàng. Sau khi thu hoạch, bỏ hết tạp chất, phơi trong bóng râm khi thấy vỏ quả bắt đầu nhăn nheo thì mang ra phơi nắng nhẹ (nếu phơi nắng ngay từ đầu làm quả vỡ) hoặc có thể sấy ở nhiệt độ khoảng 60 °C đến khi vỏ ngoài quả khô và cứng, thịt quả mềm. Loại bỏ cuống.

Mô tả

Quả hình trứng dài hay trái xoan, hai đầu hơi lõm, dài 6 mm đến 20 mm, đường kính 3 mm đến 10 mm. Mặt ngoài màu đỏ cam, mềm, bóng, thường nhăn nheo. Gốc quả có vết cuống quả màu trắng còn sót lại, đỉnh quả có điểm nhỏ hơi nhô lên. Quả có nhiều hạt nhỏ hình thận dẹt, hai mặt hơi cong phồng hoặc có một mặt lõm. Hạt màu vàng nâu có nội nhũ, rốn hạt là một điểm lõm nhỏ ở mép hạt. Chất mềm, vị ngọt hơi chua.

Ghi chú: Quả chín có màu đỏ sẫm hoặc vàng đỏ, trong có nhiều hạt, quả lớn đều nhau, mềm là loại tốt, quả bé khô màu thâm đen không nên dùng.

Bột

Màu vàng cam hoặc nâu đỏ, hơi dính. Quan sát trên kính hiển vi thấy: Mảnh biểu bì vỏ quả ngoài tế bào hình nhiều cạnh hoặc hình đa giác kéo dài khi nhìn trên bề mặt, thành tế bào mặt ngoài có các vạch cutin xếp song song, thành tế bào trong thẳng hoặc lượn sóng. Mảnh mô mềm của vỏ quả giữa tế bào hình nhiều cạnh, thành mỏng, khoang chứa

các hạt màu nâu đỏ hoặc đỏ cam. Tế bào cứng của vỏ hạt hình nhiều cạnh không đều khi nhìn trên bề mặt, thành dày, nhấp nhô, có vạch rõ. Mảnh nội nhũ tế bào thành mỏng, chứa các giọt dầu không màu.

Định tính

A. Lấy 1 g bột dược liệu, thêm 10 ml nước (TT), đun trong cách thủy trong 15 min, lọc lấy dịch lọc. Nhỏ 1 giọt dịch lọc lên giấy lọc, sấy nhẹ cho khô. Soi vết dịch chiết dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm. Vết dịch chiết phát quang lơ sáng. Nhỏ thêm lên vết dịch chiết 1 giọt dung dịch natri hydroxyd 2% (TT). Huỳnh quang của vết ngà sang màu lá mạ.

B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).

Bản mỏng: Silica gel G.

Dung môi khai triển: Cloroform – ethyl acetat – acid formic (2:3:1).

Dung dịch thử: Lấy 0,5 g bột dược liệu cho vào bình nón 50 ml, thêm 20 ml nước (TT), đun trong cách thủy trong 20 min, để nguội, lọc lấy dịch lọc. Lắc dịch lọc với ethyl acetat (TT) 3 lần, mỗi lần 5 ml. Gộp chung dịch chiết ethyl acetat, bay hơi đến cắn trên cách thủy. Hòa tan cắn với 1 ml ethyl acetat (TT), được dung dịch thử.

Dung dịch dược liệu đối chiếu: Lấy khoảng 0,5 g bột Câu kỷ tử (mẫu chuẩn), chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử. 

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai xong, lấy bản mỏng ra để khô ở nhiệt độ phòng, quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.

Độ ẩm

Không quá 13,0% (Phụ lục 9.6, 2 g, 80 °C, 5 h).

Tạp chất

Không quá 1,0% (Phụ lục 12.11).

Tro toàn phần

Không quá 5,0% (Phụ lục 9.8).

Chất chiết được trong dược liệu

Không dưới 55,0%, tính theo dược liệu khô kiệt.

Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10). Dùng nước làm dung môi.

Chế biến

Cẩu kỷ tử tán bột: Khi làm hoàn tán thì sấy nhẹ cho khô rồi tán bột, không sấy giòn vì mất tác dụng.

Cẩu kỷ tử tẩm rượu sao: Theo yêu cầu của thầy thuốc. Tẩm rượu Cẩu kỷ tử sao (Phụ lục 12.20) là để đưa thuốc vào can, chủ yếu chữa các chứng ở gan.

Bảo quản

Để trong đồ đựng kín, tránh ẩm mốc.

Khi dược liệu bị thâm đen có thể dùng rượu 40° phun vào rồi đảo đều, để khô rượu, nếu đỏ trở lại mới dùng. Nên dùng trong 30 ngày sau khi chế biến.

Tính vị, quy kinh

Vị ngọt, tính bình. Vào các kinh thận, can, phế.

Công năng, chủ trị

Tư bổ can thận, sinh tỉnh tủy, sáng mắt, làm thuốc cường tráng. Chủ trị: Hư lao tinh hao tổn, đau lưng. Phối hợp với Thục địa, Tục đoạn, Tang ký sinh trị can thận hư suy.

Kỷ tử sao rượu: Trị đau đầu, hoa mắt khi phối hợp với Cúc hoa, Sơn thù, Hoài sơn, Thục địa. Trị hư lao phát sốt khi phối hợp với Tri mẫu, Đương quy, Thanh hao. Trị phế nhiệt ho suyễn khi phối hợp với Tang bạch bì, cam thảo.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 8 g đến 12 g, có thể dùng 16 g dạng thuốc sắc. Làm thuốc hoàn tán tùy theo yêu cầu của bài thuốc.

Ghi chú: Cầu kỷ tử chủ yếu bổ thận âm để sinh ra tỉnh tủy, dưỡng can để bình can nên không ngâm rượu. Những bài thuốc ngâm rượu chủ yếu để bổ dương, có Cầu kỷ tử là để trợ âm giúp dương trưởng.

Kiêng kỵ

Tỳ vị hư yếu, đại tiện phân sống không dùng.

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1276-1277, tải PDF tại đây 

THÔNG TIN TƯ VẤN