Đánh giá dược mỹ phẩm theo các tiêu chí nào?

đánh giá dược mỹ phẩm

Nhà thuốc Ngọc Anh – Chương 3: Đánh giá dươc mỹ phẩm – David H. McDaniel, Christina Steell, and Chris Mazur!

Nguồn: Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ

Bác sĩ: PATRICIA K.FARRIS

Giới thiệu

Những năm gần đây đã cho thấy sự gia tăng đáng kể về số lượng dược mỹ phẩm đang được tiếp thị, nhưng các quy trình tiêu chuẩn nhằm thử nghiệm tính an toàn và hiệu quả lại không rõ ràng. Mỗi công ty đều chứng minh dữ liệu để hỗ trợ các công bố theo một cách khác dẫn đến việc có rất ít so sánh trực tiếp được thực hiện. Điều này dẫn đến nhiều ví dụ về khoa học và các vấn đề về đạo đức đến từ các quy trình kiểm tra không chuẩn hóa và có thể dấy lên nghi ngờ về hiệu quả thẩm mỹ nói chung, dẫn đến tỷ lệ chấp nhận thấy trong dư luận.

Việc sử dụng lần đầu tiến thuật ngữ “dược mỹ phẩm” được đặt ra bởi Tiến sĩ Albert Klignan, người có tầm nhìn rõ ràng về ba tiêu chí cụ thể cần đáp ứng để đánh giá hiệu quả có lợi được đề xuất của sản phẩm dược mỹ phẩm. Trớ trêu thay, mặc dù người khởi tạo đã có hướng dẫn cụ thể cho hiệu quả của sản phẩm, sau khi xem xét các kết quả đã công bố cho một số sản phẩm bình dân nhất, rất ít sản phẩm đáp ứng được cả ba tiêu chí. Các tiêu chí để xuất không phải là không hợp lý, cũng không phải là đặc biệt khó thực hiện. Chúng dựa trên các nguyên tắc khoa học đúng đắn tương tự như các định đề của Koch về xác định vi sinh vật. Ba tiêu chí cơ bản để chứng minh hiệu quả của một hợp chất dược mỹ phẩm, theo Tiến sĩ Kligman, là: (1) hoạt chất phải xuyên qua lớp sừng (SC) với nồng độ đủ để đi đến nơi cần tác động trong một khung thời gian phù hợp với cơ chế hoạt động của chất đó; (2) thành phần phải có cơ chế hoạt động sinh hóa cụ thể đã biết ở mục tiêu (da, tế bào hoặc mô); và (3) dữ liệu có ý nghĩa thống kê từ các thử nghiệm lâm sàng đối chứng mù đôi và giả dược đủ để chứng minh tất cả các yêu cầu của sản phẩm.

Kiểm tra ngắn gọn ba tiêu chí, rõ ràng là các yêu cầu này cho hiệu quả là logic và hợp lý. Tiêu chí đầu tiên, lớp sừng đóng vai trò như một cơ chế hàng rào hiệu quả cho da, ngăn protein, đường, peptide, acid nucleic và các phân tử tích điện cao với trọng lượng phân tử lớn hơn 1000 kDalton không dễ dàng xâm nhập hoặc bị hấp thụ. Như vậy chứng tỏ rằng sự vận chuyển của các chất này qua lớp sừng, với lượng cần thiết để có hiệu quả sinh học, cần được giải quyết. Tiêu chí thứ hai giải quyết nhu cầu chứng minh một cơ chế hoạt động đã biết cho phép tạo ra hiệu ứng sinh lý (kich hoạt/ ức chế biểu hiện gen, hoạt động của enzym, điều hòa chu kỳ tế bào, vv.). Có nhiều chất phổ biến mà không có cơ chế hoạt động rõ ràng hoặc có cơ chế chưa rõ, cần được nghiên cứu thêm. Thứ ba, các thử nghiệm lâm sàng cần tạo ra dữ liệu với các kết quả có độ lặp lại có ý nghĩa thống kê cả về kích thước mẫu và hiệu quả được ghi nhận. Hơn nữa, nghiên cứu lý tưởng là mù dối và có phương tiện được kiểm soát nhằm tránh sai số. Thiết kế nghiên cứu phù hợp là một trong những yếu tố quan trọng thường bị thiếu trong nhiều thử nghiệm lâm sàng đã được công bố cho các chất mới (bột, chiết xuất từ tế bào, các sản phẩm phụ của tế bào, V.v.). Một thiếu sót phổ biến khác là kích thước cỡ mẫu không đủ lớn để có giá trị kết luận về mặt thống kê.

Đối với các cơ quan quản lý của chính phủ, các hướng dẫn chính được xuất bản không nói đến tính hiệu quả, mà là sự an toàn của sản phẩm và các quy định về công bố tiếp thị. Trong cả hai tài liệu được xuất bản bởi SCCNFP Châu u (Ủy ban Khoa học về Sản phẩm Mỹ phẩm và Sản phẩm Không phải Thực phẩm cho Người tiêu dùng ở EU) và FDA (Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm) ở Hoa Kỳ, có các hướng dẫn chi tiết về cách thử nghiệm các đo lường về độ an toàn như kích ứng da và độ nhiễm khuẩn, nhưng các hướng dẫn tương tự về hiệu quả không được tìm thấy. Trong chương này, chúng tôi sẽ cố gắng phác thảo quy trình thử nghiệm từ trong ống nghiệm đến thử nghiệm lâm sàng trên người (xem Hình 3.1), chứng minh nhiều phương pháp đều gắn liền và mở rộng dựa trên các tiêu chí khoa học về hiệu quả dược mỹ phẩm của Tiến sĩ Kligman nhiều năm trước.

Đánh giá in vitro

Thử nghiệm ban đầu của một hoạt chất dược mỹ phẩm lý tưởng được thực hiện trong phòng thí nghiệm và thường nhất là trong nuôi cấy tế bào. Chủ yếu là các tế bào người, một loại liên quan đến các tác động dự đoán, ví dụ, nuôi cấy nguyên bào sợi (fibroblast) của da người, đóng vai trò là tế bào cơ bản để thử nghiệm hầu hết các quá trình quang lão hóa hoặc các sản phẩm chăm sóc da. Các dòng tế bào khác được sử dụng khi sản phẩm có các chức năng chuyên biệt, như làm sáng da (tế bào hắc tố) hoặc kích thích mọc tóc (nhú bì hoặc toàn bộ nang lông).

Sử dụng tế bào người được nuôi cấy làm “đối tượng thử nghiệm” ban đầu là một cách hiệu quả về chi phí cách liên kết với thử nghiệm trên người sau này. Nếu một tác động có lợi có thể được thấy ở tế bào người (và cũng như nếu cơ chế hoạt động có thể được xác định và đáp ứng tiêu chí thứ hai về hiệu quả dược mỹ phẩm, nó mang lại tính khoa học khi kết quả tương tự được chứng minh ở thử nghiệm lâm sàng trên người.

Hình 3.1 Phác thảo quy trình thử nghiệm được đề xuất để đánh giá dược
Hình 3.1 Phác thảo quy trình thử nghiệm được đề xuất để đánh giá dược

Thử nghiệm khả năng sống/chức năng tế bào (cell viability)

Một loạt thử nghiệm đầu tiên cần được tiến hành với bất kỳ hoạt chất dược mỹ phẩm nào nhằm chứng minh không có hại khi hoạt chất được dùng trên tế bào, Điều này thường được thực hiện nhất thông qua thử nghiệm khả năng sống của tế bào. Có các thử nghiệm khác liên quan đến việc đo lường một sản phẩm đã biết hoặc đánh dấu liên quan đến tăng sinh tế bào, hình thành u mạch, chu trình/tế bào tăng sinh và nhiều quá trình tế bào khác. Tất cả các thử nghiệm này trước hết sẽ giúp chứng minh rằng hợp chất về mặt lý thuyết là an toàn để sử dụng trên người (bằng chứng là kết quả tốt trong các thử nghiệm về khả năng sống của tế bào có liên quan tới mô đích hoặc cách dùng) và cũng sẽ mô tả (các) tác động của dược mỹ phẩm trên vài chức năng hoặc quá trình của tế bào với chi phí tương đối thấp. Mô tả ngắn gọn dưới đây là một số phương pháp thử nghiệm phổ biến giúp làm sáng tỏ cơ chế hoạt động và sự an toàn tổng thể của một hoạt chất dược mỹ phẩm mới.

  1. Xét nghiệm MTT: 3 (4,5-Dimethylthi-azol-2-yl) -2,5-dipheyltetrazolium bromide)là muối tetrazolium bị khử thành formazan, nhuộm màu tím cho các tế bào sống. Điều này giúp xác định hiệu quả độc tính tế bào ở các tế bào được nuôi cấy. Khi so sánh với mẫu chứng, có thể đếm được số lượng tế bào giảm và tính được gần đúng tỷ lệ tế bào chết. Ngược lại, sự gia tăng formazan cho thấy một lượng lớn hơn các tế bào sống hoặc tăng hiện tượng tăng sinh.
  2. Thử nghiệm hình thành mạch: Quá trình hình thành mạch là quá trình tạo ra mạng lưới mao mạch mới. Điều này rất quan trọng trong việc lành vết thương bình thường, cũng như các bệnh lý như bệnh võng mạc tiểu đường và di căn khối u. Một số thử nghiệm in vitro tồn tại, nhưng hầu hết đều dựa trên nguyên tắc thêm các tế bào nội mô vào khung gel giống ECM với sự hiện diện của các nồng độ khác nhau của hợp chất thử nghiệm và theo dõi tốc độ và mức độ di chuyển và hình thành ống của nội mô bổ sung trên khung.Một thử nghiệm in vitro được phát triển gần đây khiến điều này bước xa hơn và cho phép hình dung ba chiều về toàn bộ quá trình hình thành mạch. Bằng cách sử dụng phần tròn của tế bào nội mô, việc bổ sung hợp chất tạo mạch sẽ làm cho các tế bào đầu tròn bắt đầu biến chuyển và hình thành “mềm” (tương đương với mạch máu mới) mà sau đó có thể được xác định cả số lượng và độ dài, mang lại việc đo lường tuyệt với khả năng tạo mạch của dược mỹ phẩm.. ác.
  3. Các thử nghiệm khác: Có một số lượng lớn các thử nghiệm khác có thể được thực hiện in vitro và có thể giúp xác định nhiều thêm cơ chế hoạt động của một hợp chất dược mỹ phẩm cụ thể, nhưng ở thời điểm này, các xét nghiệm bắt đầu phải được điều chỉnh cho phù hợp với mô cụ thể hoặc hiệu quả mong muốn mà hợp chất dự kiến có được. Trong số nhiều thử nghiệm bổ sung sẵn có là: sản xuất ATP cho quá trình trao đổi chất của tế bào, sự chuyển hóa của các hợp chất cụ thể như leptin, glycerol, vv., nguyên phân, tổn thương DNA (hữu ích cho các chất chống oxy hóa), trạng thái thấm qua màng ty thể và nhiều trạng thái NA (hữu ích cho các chất chống oxy hóa), trạng thái thấm qua màng ty thể và nhiều trạng thái khác.

Thử nghiệm biểu hiện gene

Bước tiếp theo sau khi xác định bất kỳ ảnh hưởng độc tính nào cũng như liều “an toàn” in vitro tối đa) là để tiếp tục kiểm tra tác động của hợp chất và tìm kiếm bất kỳ biểu hiện di truyền hoặc ảnh hưởng đến tín hiệutruyền và các enzym liên quan như một cơ chế hoạt động. Quá trình sẽ liên quan đến việc để các tế bào đích môi trường nuôi cấy tiếp xúc với nhiều nồng độ hoạt chất trong một khoảng thời gian và phân lập DNA/RNA (tùy thuộc loại thử nghiệm được đề xuất) và so sánh kết quả với mẫu thử với cùng thời gian. Điều này tạo ra một mức biểu hiện tương đối cho cả một gen, nhiều gen, toàn bộ quy trình của gen hoặc toàn bộ bộ gen của con người (một lần nữa, tùy thuộc vào thử nghiệm). Kết quả cho thấy nếu có nhiều hơn hoặc ít hơn mRNA (tín hiệu đến tế bào để tạo ra nhiều (các) protein mà gen mã hóa) hiện diện trong các tế bào thử nghiệm, mà chúng cho biết cả việc tăng điều tiết (tăng sinh) hoặc giảm điều tiết giảm sinh) của các gen được nghiên cứu. Các thử nghiệm gen chi phí thấp hiện có ở nhiều phòng thí nghiệm thương mại hoặc thông qua thử nghiệm nội bộ làm cho các nghiên cứu biểu hiện gen trở nên dễ dàng và quan trọng đối với việc đánh giá hiệu quả của các sản phẩm dược mỹ phẩm mới.

Phương pháp thử nghiệm gen hiệu quả nhất là microarray, có thể thử nghiệm số lượng gen đáng kinh ngạc (lên đến toàn bộ bộ gen của con người, trong một lần. Microarray có thể được thiết kế tùy chỉnh (hoặc đã có sẵn trên thị trường) để tập trung vào các con đường cụ thể có liên quan đến đề xuất cơ chế hoạt động của hợp chất. Thậm chí microarray có thể dùng để xác định các cơ chế hoạt động tiềm năng bằng cách thử nghiệm các điểm đánh dấu chính của nhiều con đường khác nhau cho các quá trình tế bào, để bạn có thể sử dụng dữ liệu để chọn một con đường có khả năng (hoặc nhiều con đường) mà hợp chất có thể ảnh hưởng. Một khi đã quyết định, cơ chế hoạt động đặc hiệu hoặc các gen liên quan có thể được nghiên cứu và những kết quả đó có thể xác nhận hoặc bác bỏ cơ chế hoạt động được đề xuất là hợp lệ cho một hợp chất dược mỹ phẩm. | Có một số loại microarray tổng thể. Ngoài mảng phân tích được mô tả trước đây, cũng có mảng CGH (Comparative Genomic Hybridiation) chứng minh những thay đổi trong số lượng bản sao của một gen cụ thể giữa các mẫu; và SNP (Singular Nucletotide Polymorphism) xác định xem có bất kỳ đột biến nào trong trình tự gen của một gen cụ thể. Thông tin này đặc biệt hữu ích trong việc phân loại trạng thái bệnh hoặc bệnh lý và xác định tiềm năng với độ nhạy cảm ở các trạng thái giống nhau. Không chắc một dược mỹ phẩm sẽ trực tiếp thay đổi bất cứ thứ gì mà các loại mảng này đo lường, nhưng chúng có thể được dùng để xác định hồ sơ di truyền của bệnh lý của các đối tượng đáp ứng tốt nhất.

Ngoài ra, PCR gen đơn (hoặc RT-PCR) có thể được thực hiện, trong đó chỉ một gen được chọn để kiểm tra các thay đổi biểu hiện di truyền. Mặc dù điều này có thể tiết kiệm thời gian, nhưng chỉ nên thực hiện PCR gen đơn khi xác nhận một giả thuyết cụ thể (chẳng hạn như, sẽ điều trị bằng hợp chất làm tăng biểu hiện gen của Collagen IA1?) hoặc được dùng như một chất đánh dấu đặc hiệu trong thay đổi nồng độ và công thức một khi cả cơ chế hoạt động và hồ sơ biểu hiện gen dự kiến cho một hợp chất đã được xác định rất rõ ràng.

Sản xuất protein Sau khi hoàn thành thử nghiệm độc tính, chức năng tế bào và phân tích biểu hiện gen, bước tiếp theo là chứng minh những thay đổi quan sát được trong biểu hiện gen, dẫn đến việc sản xuất thực tế protein cần thiết. Biểu hiện gen chỉ đơn giản là xác định số lượng mRNA và tế bào đang nhận, các sửa đổi sau dịch mã có thể xảy ra và protein không bao giờ thực sự được tạo ra, vì vậy bằng cách xác minh rằng cả tín hiệu gen được nhận và bản thân protein được tạo ra, một liên kết khoa học mạnh mẽ có thể được thực hiện giữa hợp chất và hiệu quả.

Một trong những phương pháp đơn giản nhất để xác định sản xuất protein là thông qua việc sử dụng kỹ thuật ELISA nhằm phát hiện hàm lượng protein bằng cách gắn protein với thuốc thử so màu hoặc huỳnh quang có trong một đĩa 96 giếng và đọc bằng máy quang phổ hoặc máy đo huỳnh quang. Các phần nổi trên bề mặt từ các tế bào nuôi cấy được xử lý bằng hợp chất được thử nghiệm trực tiếp và nồng độ của protein sản xuất có thể được định lượng dựa trên đường chuẩn. Đây có lẽ là dấu hiệu rõ ràng nhất protein đang được tạo ra do tín hiệu biểu hiện gen bị thay đổi trong các tế bào được xử lý; trên thực tế, phần nổi phía trên có thể được thu thập từ cùng các tế bào thí nghiệm mang lại kết quả microarray. | Một phương pháp khác để xác định sự thay đổi sản xuất ắng đọng protein là thông qua phân tích hóa mô hoặc phân tích hóa mô miễn dịch của protein. Thường được thực hiện ở các mô ex vivo, nó cũng có thể phát hiện protein tế bào trong nuôi cấy in vitro, cũng như trong mô người được nuôi cấy. Mở người tương đương tồn tại cho nhiều loại mô khác nhau và có thể được nuôi cấy trong mối trường tương tự như nuôi cấy tế bào.

Hình 3.2 Hình ảnh của kết quả protein assay cho thấy một số protein đích
Hình 3.2 Hình ảnh của kết quả protein assay cho thấy một số protein đích

Một phương pháp tương đối mới đã được phát triển để thử nghiệm sản xuất protein, và đó là microarray protein. Kết hợp kỹ thuật ELISA với dấu chân và phương pháp định lượng của microarray, những thử nghiệm mới cho phép việc định lượng số lượng lớn các protein có trong mẫu. (Hình ảnh mẫu thể hiện trong Hình 3.2.) Các mảng cũng thường là con đường hoặc bệnh cụ thể, ví dụ, một tập hợp các chứng viêm protein có thể bao gồm một mảng Cytokine gây viêm và chứng minh sự giảm các chất đánh dấu viêm sau khi tiếp xúc với một hợp chất dược mỹ phẩm, xác thực thêm giả thuyết cơ học của hợp chất được thử nghiệm.

Có nhiều phương pháp phát hiện protein khác có thể được sử dụng, chẳng hạn như Zymography gel, đo dòng chảy tế bào, hình ảnh huỳnh quang tế bào riêng lẻ, Vy mà không được thảo luận ở đây. Thật vậy, lĩnh vực thử nghiệm in vitro có thể mở rộng với tốc độ rất nhanh khi các kỹ thuật trở nên tiên tiến hơn và ít tốn kém hơn. Rất có thể thử nghiệm in vitro có thể trở thành hình thức thử nghiệm chiếm ưu thế phát triển đến mức được mô hình hóa bằng máy tính đáp ứng của tế bào với các hợp chất chưa biết) của các hợp chất dược mỹ phẩm trong tương lai rất gån.

Đánh giá in vivo

Sau khi hoàn tất thử nghiệm in vitro, các bước tiếp theo là thiết kế nghiên cứu in vivo. Hai lựa chọn chính là mô hình động vật và một thử nghiệm lâm sàng trên người. Mặc dù có những ưu và nhược điểm đối với mỗi phương pháp, cả hai phương pháp này phải được thiết kế cẩn thận, sử dụng các biện pháp kiểm soát, bảo vệ và hội đồng đánh giá thích hợp để cung cấp dữ liệu hợp lệ mang tính thống kế trong khi bảo vệ các đối tượng con người và đảm bảo đối xử nhân đạo với các động vật. Các nghiên cứu trên động vật thường là bước trung gian giữa phòng thí ng-hiệm và thử nghiệm trên người và hiếm khi (nếu có) thay thế nghiên cứu lâm sàng trên người khi có sản phẩm thẩm mỹ gần như cuối cùng.

Bằng cách thiết kế các nghiên cứu có giá trị về mặt thống kê, dữ liệu khoa học tốt có thể được tạo ra trong các mô hình ứng dụng trong thế giới thực, hỗ trợ các công bố và dữ liệu cơ học được phát hiện in vitro. Bằng cách này, hoạt động của hoạt chất dược mỹ phẩm có thể được theo dõi ở cấp độ tế bào, từ biểu hiện gen đến hoạt tính sản xuất protein mà sau đó được xác minh với kết quả lâm sàng ở người hoặc động vật và tạo ra bằng chứng chắc cho thấy dược mỹ phẩm có hiệu quả đối với cách dùng cụ thể.

Thử nghiệm trên động vật

Theo truyền thống, giai đoạn kiểm tra giữa phòng thí nghiệm và con người thử nghiệm là một mô hình động vật. Trong những năm gần đây, dư luận tiêu cực liên quan đến việc sử dụng động vật để thử nghiệm các sản phẩm dược mỹ phẩm đã vượt xa bất kỳ lợi nhuận có thể có. Thực tế, nhiều hãng mỹ phẩm lớn hiện nay đã có tiêu chuẩn quy trình vận hành nghiêm cấm việc thử nghiệm trên động vật dưới bất kỳ hình thức nào để giảm thiểu dư luận xấu/phản đối và làm cho công bố “Không thử nghiệm trên động vật” thành mục đích tiếp thị. Chủ yếu là vì những lý do này, cũng như việc mở rộng khả năng thử nghiệm in vitro mà nhiều mô hình thử nghiệm động vật truyền thống là thừa đối với hầu hết mặt hàng dược mỹ phẩm thông thường và chỉ trong trường hợp một dạng chuyên dụng của thủ nghiệm mà mô hình động vật là phương pháp thử nghiệm duy nhất sẵn có.

Thử nghiệm độ an toàn của chế phẩm cuối

Công thức được thử nghiệm trên người phải được thử nghiệm đầy đủ trước khi được sử dụng trên người. Rất tiếc là không có bộ các thử nghiệm để xác định độ an toàn và trong nhiều trường hợp là độ ổn định. FDA cho phép sử dụng dữ liệu độc tính đã được thiết lập trước đó từ các cá nhân riêng lẻ của một công thức cũng như thành phần tương tự trong công thức. Ví dụ, vitamin C có thử nghiệm về tính ổn định và độc tính đã được ghi nhận đầy đủ nên các công thức có nồng độ vitamin C tương đương được cho là an toàn với dữ liệu đã được thiết lập trước đó.Nó thường là trường hợp các hợp chất được thiết lập tốt, hoặc GRAS (thường được công nhận là an toàn), có dữ liệu đã có trong tệp. | Nếu thành phần/công thức có chứa các hợp chất mới, thì tùy thuộc vào cá nhân người pha chế xác định cách tốt nhất để chứng minh, theo hướng dẫn của FDA, sự an toàn và ổn định của hợp chất. Phổ biến nhất là RIPT (Thử nghiệm dị ứng lặp lại theo thời gian trên 50-200 đối tượng), độc tính quang học/dị ứng quang học (thường đối với các chế phẩm có chứa mùi hương hoặc hấp thụ tia UV), thử nghiệm vi sinh (để đảm bảo không có chất gây ô nhiễm trong công thức) và các mô hình thử nghiệm độ ổn định khác nhau (để đảm bảo công thức vẫn hoạt động và được trộn trong suốt thời hạn sử dụng của sản phẩm).

Độ an toàn

• Độ an toàn

• Độc tính

• Thử nghiệm miếng dán lặp lại

• Thử nghiệm vi sinh

• Quang dị ứng

• Quang độc tính

Độ ổn định (tất cả các thử nghiệm sử dụng điểm cuối của pH, độ nhớt, mùi và màu như là điểm cuối ban đầu)

• Thử nghiệm độ ổn định 90 ngày (ở 45°C)

• Thử nghiệm độ ổn định tăng tốc (dùng nhiệt độ cao hơn và thời gian ngắn hơn)

• Thử nghiệm chu kỳ (từ -10°C tới 45°C)

Thử nghiệm lâm sàng trên người

Các thử nghiệm lâm sàng trên người cần có sự giám sát của IRB (Hội đồng y đức) và điều quan trọng là tất cả các biện pháp bảo vệ cho các đối tượng con người cũng phải được tuân thủ các tiêu chuẩn Thực hành lâm sàng tốt (GCP). Các nghiên cứu về những các loại được xử lý tốt nhất bởi Chuyên gia nghiên cứu lâm sàng được chứng nhận và điều phối viên để đảm bảo rằng không chỉ các yêu cầu của IRB, đối tượng con người liên quan và trong trường hợp các sản phẩm chờ sự chấp thuận của FDA, tất cả yêu cầu của FDA được đáp ứng; bao gồm cả báo cáo dữ liệu và lưu trữ giống nhau.

Thiết kế nghiên cứu

Khi đội ngũ nhân viên lâm sàng thích hợp đã được thành lập, trọng tâm cần được về thiết kế nghiên cứu thích hợp. Có nhiều nghiên cứu lâm sàng có sẵn trong tài liệu cho nhiều loại sản phẩm dược mỹ phẩm, tuy nhiên khi kiểm tra kỹ hơn, nhiều nghiên cứu cho thấy thiết kế nghiên cứu kém không tạo ra kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thống kê và trông giống như một bộ sưu tập các nghiên cứu ca hoặc bằng chứng nhỏ lẻ. Các yếu tố góp phần tạo nên một nghiên cứu được thiết kế tốt là:

  1. Xác định cỡ mẫu để tạo dữ liệu có ý nghĩa thống kê đủ để chứng minh hiệu quả của sản phẩm. Việc xác định kích thước mẫu có thể khá khó xác định chính xác vì nó dựa trên quy mô của tổng thể được nghiên cứu và yêu cầu liên quan đến công thức toán học mà có nhiều yếu tố, chẳng hạn như mong muốn khoảng tin cậy của thống kê (ví dụ: Khoảng tin cậy 95% về cơ bản là sự đảm bảo rằng có 95% khả năng kết quả không xảy ra ngẫu nhiên), mức độ chính xác và giới hạn (margin) mong muốn của sai số. Khi thiết kế một nghiên cứu để được FDA chấp thuận, FDA có thể thiết lập cỡ mẫu cần thiết; theo nguyên tắc ngón tay cái, tốt nhất là nghĩ về mức thay đổi dự kiến mà sản phẩm dược mỹ phẩm mong đợi mang lại (một lý do khác khiến việc thử nghiệm in vitro trở nên quan trọng). Nếu sản phẩm sẽ tạo ra những thay đổi mức độ thấp, không đáng kể, cỡ mẫu lớn cần được lựa chọn. Thông thường, chỉ những thay đổi tương đối mạnh mới có thể được chứng minh thống kê với cỡ mẫu nhỏ phổ biến cho nhiều nghiên cứu thẩm mỹ.

Bảng 1: Các yếu tố của thiết kế nghiên cứu lâm sàng tốt nhằm đảm bảo giá trị khoa học đúng đắng trong các thử nghiệm dược mỹ phẩm.

Các yếu tố của thiết kế nghiên cứu tốt
Cô mẫu và giá trị thống kë mong muốn (khoảng tin cậy, giới hạn sai só, v.v.) Độ dài của nghiên cứu và số lượng của điểm dữ liệu thu thập Loại chỉ số sử dụng và thời gian của các sự kiện thu thập dữ liệu Tiêu chuẩn. của kết quả thành công Lựa chọn sự điều phối thích hợp

2. Sau khi đã xác định được cỡ mẫu, quyết định quan trọng tiếp theo là xác định độ dài của nghiên cứu và làm thế nào thu thập điểm dữ liệu. Lúc đầu khi xem xét các biến số này, nó trở nên quan trọng để xác định kết quả điều trị mong đợi với dược mỹ phẩm (một lần nữa, thử nghiệm in vitro có thể rất quan trọng). Ví dụ, khi nghiên cứu một sản phẩm được thiết kế để tăng collagen, người ta phải đảm bảo rằng nghiên cứu kéo dài đủ lâu để sản xuất collagen mới xuất hiện và tích lũy đến mức độ ý nghĩa về mặt lâm sàng. Thứ hai, nghiên cứu phải bao gồm một thời gian theo dõi (một thời gian nhất định kéo dài sau khi điều trị khi đối tượng không sử dụng sản phẩm) để xác định xem kết quả vẫn có thể được phát hiện bằng cách sử dụng số liệu. Khoảng thời gian này đôi khi được gọi là “thời kỳ rửa trôi” (washout period). Điều này cho phép kết quả của sản phẩm được phân loại là tạm thời (3-12 tuần) hoặc vĩnh viễn (12 tháng trở lên). Cuối cùng, khoảng thời gian các đối tượng tham gia sẽ tiếp tục nghiên cứu mà không bỏ cũng nên là một yếu tố.

3. Một khía cạnh khác của thiết kế nghiên cứu là xác định các chỉ số nào sẽ được sử dụng và thời gian của các chỉ số đó. Tất cả các nghiên cứu tốt sẽ có đường cơ sở và các phép đo sau điều trị ở mức tối thiểu. Thưởng hữu ích khi thu thập dữ liệu tại các điểm trong thời gian tạm thời (thường là điểm giữa của nghiên cứu) hoặc tại các cột mốc đã chọn (ví dụ: sau mỗi cá nhân điều trị, sau đợt điều trị đầu tiên hoặc sau một số tuần nhất định) và là duy nhất cho mỗi nghiên cứu. Thông tin thêm về các chỉ số được thảo luận trong phần sau.

4. Một phần khác của thiết kế nghiên cứu là xác định những gì sẽ được xem xét một điều trị “thành công”. Điều này có thể đơn giản hoặc phức tạp tùy thuộc vào bản chất của các kết quả được nghiên cứu và các thước đo được sử dụng. Nó có thể dễ dàng như xác định rằng một đối tượng cải thiện một điểm trên thang điểm cho một đặc tính cụ thể được coi là một thành công, hoặc phức tạp như sử dụng các giá trị cụ thể trên một công cụ đo lường (ví dụ, sau điều trị, giảm 25% giá trị điểm đo lường lượng bã nhờn, so với mức cơ sở). Đây là các tiêu chí hợp lý cần đáp ứng cho một sản phẩm mỹ phẩm.

5. Khía cạnh cuối cùng, và có thể là quan trọng nhất để nghiên cứu thiết kế, là lựa chọn các biện pháp kiểm soát thích hợp. Trong trường hợp của một nghiên cứu dược mỹ phẩm, tốt hơn là để các đối tượng và điều tra viên không biết đối tượng nào đang được điều trị nào để ngăn chặn sai số. Điều này yêu cầu sử dụng nhóm giả dược, nhóm này thường sẽ được xử lý trong giống hệt với sản phẩm, nhưng không có hoạt chất. Ví dụ: quyết định sử dụng khuôn mặt chia đôi so với đối tượng phù hợp có thể phức tạp.

Các chỉ số phổ biến

  1. Trong việc đánh giá hiệu quả của dược mỹ phẩm, có lẽ công cụ thu thập dữ liệu quan trọng nhất là hình ảnh kỹ thuật số. Mức tối thiểu để thiết kế nghiên cứu tốt bao gồm ảnh ban đầu và ảnh sau điều trị. Tiêu chuẩn tối thiểu cho hình ảnh lâm sàng tốt là các hình ảnh được chụp ở điều kiện ánh sáng tiêu chuẩn, từ cùng một góc máy và khoảng cách từ đối tượng, sử dụng cùng một máy ảnh (vì mỗi chip kỹ thuật số có thể có độ phân giải hơi khác có thể làm thay đổi nhỏ kết quả), và trên nền cùng màu (hoặc phóng to đủ gần mà nên không hiển thị trong hình ảnh). Một tập hợp hình ảnh phù hợp là sự thu hút tiêu thụ lớn nhất mà một sản phẩm có thể có đối với công chúng cũng như cộng đồng khoa học. Có nhiều hệ thống hình ảnh có sẵn trên thị trường có độ phân giải máy ảnh cao và một thiết bị cố định được thiết kế để đảm bảo định vị cho thứ tự các hình ảnh. Một số hệ thống hình ảnh này cũng được trang bị các gói phân tích hình ảnh phức tạp cho phép tính đến các đặc điểm (kích thước lỗ chân lông, số lượng lông, vv.), đánh giá tông màu da thông qua phân tích thành phần của hình ảnh Đỏ và Nâu, và thậm chí cả hình ảnh 3D/mô hình hóa khu vực được chụp ảnh, cho phép phân tích có kiểm soát thay đổi thể tích và kết cấu.
  2. “Tiêu chuẩn vàng” của các chỉ số đo lường trong nghiên cứu dược mỹ phẩm vẫn là chấm điểm từ chuyển gia được làm mù. Trong trường hợp này, các hình ảnh phù hợp được chọn ngẫu nhiên và được đặt trước một chuyên gia hoặc hội đồng chuyên gia về sử dụng và thử nghiệm dược mỹ phẩm, mà những người này sau đó đánh giá từng hình ảnh riêng lẻ dựa trên quyết định về các đặc điểm và quy mô sử dụng. Phương pháp này vẫn là phương pháp ưu tiên để đánh giá mà FDA ưa chuộng. Các thang đo thường được thiết kế riêng cho từng nghiên cứu; hoặc có thể là các thang đo đã được đánh giá tốt và sử dụng trong nhiều năm trong các tài liệu khoa học. Ví dụ về thang đo mỹ phẩm được sử dụng chấp nhận rộng rãi là thang đo mức độ nghiêm trọng của nếp nhăn Fitzpatrick, thang phân loại quang lão hoá Glogan và thang đo Ascher cho giảm thể tích. 3 Như đã đề cập trước đây, có một lượung lớn các thiết bị có thể được sử dụng để đo nhiều điều kiện hữu ích khác nhau nhằm chứng minh hiệu quả trong một sản phẩm dược mỹ phẩm. Có đồng hồ đo độ đàn hồi có thể do khả năng phục hồi của da (chẳng hạn như BTC2000); máy đo màu có thể phát hiện những thay đổi tông màu da, máy đo lượng bã nhờn ghi lại tổng mức tạo ra, hình ảnh siêu ấm cho thấy độ dày của da, đo cấu trúc da, và những thứ khác không thể liệt kê. Những thiết bị này không luôn được coi là “hợp lệ” và các thương hiệu thiết bị khác nhau cũng có thể không cho cùng dữ liệu, vì vậy cần cẩn thận khi thiết kế nghiên cứu để đảm bảo rằng dữ liệu sẽ được chấp nhận cho tất cả các mục đích sử dụng cuối cùng.
  3. Cuối cùng là đánh giá đối tượng, bảng câu hỏi kết thúc và nhật ký điều trị. Mặc dù những thứ này có thể mang lại một số dữ liệu hữu ích, nhưng nó khá vô tình hoặc hữu ý làm lệch kết quả bằng cách giới hạn các lựa chọn người trả lời, hoặc theo cách diễn đạt khác của các câu hỏi. Điều này gây khó khăn một cách đáng kể khi làm sai lệch nhật ký điều trị vì đây là nơi đối tượng sẽ ghi nhận việc sử dụng sản phẩm nhằm đảm bảo tuân thủ quy trình nghiên cứu. Những nhật ký này cũng có thể được sử dụng để đánh giá đối tượng đánh giá sự không hài lòng hoặc các biến số khác hàng ngày hoặc hàng tuần. Dù được cung cấp nhiều loại dữ liệu hữu ích, những dữ liệu này không nên được sử dụng thay thế cho dữ liệu chấm điểm của chuyên gia, và dữ liệu này không nên được sử dụng để xác định hiệu quả của một sản phẩm dược mỹ phẩm.

Kết luận

Tóm lại, việc đánh giá hiệu quả của dược mỹ phẩm phải được xác định rõ ràng và quy trình tuyến tính có thể chứng minh cả ba tiêu chí được mô tả trước đó của Tiến sĩ Kligman: (1) hoạt chất phải thấm qua lớp sừng (SC) với nồng độ đủ cho đích đến dự kiến trong một khung thời gian phù hợp với cơ chế hoạt động của hợp chất; (2) thành phần phải có cơ chế hoạt động sinh hóa cụ thể đã biết trên mục tiêu (da, tế bào hoặc mô); (3) dữ liệu quan trọng về mặt thống kê cần được tạo ra từ các thử nghiệm lâm sàng đã được công bố, được xem xét, mù đôi và có đối chứng với giả dược đủ để chứng minh tất cả các công bố của sản phẩm. Dữ liệu này sẽ được trình bày và xuất bản trong các diễn đàn và tạp chí được bình duyệt. Bằng cách sử dụng các bước kiểm tra đã nêu trong chương này, các tiêu chí này có thể được đáp ứng bằng cách sử dụng các nguyên tắc khoa học và thực hành lâm sàng tốt. Điều này sẽ cho thấy sức nặng lớn hơn đối với bất kỳ công bố nào về hiệu quả và sẽ thiết lập một tiêu chuẩn cho tất cả các hợp chất dược mỹ phẩm khác được tổ chức để xóa bỏ nhiều nghi ngờ xung quanh việc ra mắt sản phẩm hoặc cách dùng.

Further reading

  1. Ascher B, et al. Full scope of effect of facial lipoatrophy: A framework of disease understanding, Dermatologic Surgery 2006; 32(8): 1058-1069.
  2. Auxenfans C, et al. Evolution of three-dimensional skin equivalent models reconstructed in vitro by tissue engineering, Eur J Dermatol 2009; 19(2): 107–113.
  3. Bhattacha-ryya TK, et al. Profilometric and morphometric response of murine skin to cosmeceutical agents. Arch Facial Plast Surg 2009; 11(5): 332-337.
  4. Christensen ML, Braunstein TH, Treiman M. Fluorescence as-say for mitochondrial permeability transition in cardiomyo-cytes cultured in a microtiter plate. Anal Biochem 2008; 378(1): 25-31.
  5. Clinical Trials. [web page] June 12, 2012 [cited 2012 July 30]; Available from: http:// www.fda.gov/Science Research/Spe-cial Topics/Running ClinicalTrials/default

xem thêm: Phát triển công thức và đánh giá Dược Mỹ Phẩm theo tiêu chí nào?

Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here