Tăng sắc tố da sau viêm là gì? Biểu hiện và cách điều trị

Tăng sắc tố da sau viêm là gì? Biểu hiện và cách điều trị

Nhà thuốc Ngọc Anh – Phần 3 – Chương 13: Tăng sắc tố

Nguồn:Sách Các hoạt chất mesotherapy ứng dụng trong da liễu thẩm mỹ

Tác giả: Dược sĩ: Phạm Minh Hữu Tiến

TĂNG SẮC TỐ SAU VIÊM

Định nghĩa

Tăng sắc tố sau viêm (Post-inflammatory hyper- pigmen-tation-PIH) là tình trạng hiện diện những đốm hoặc mảng sắc tố sẫm màu ở các vùng da đâ trải qua quá trình viêm trước đó. Các yếu tố thúc đẩy hình thành hiện tượng này bao gồm tổn thương cơ học, các phản ứng dị ứng, bệnh lý viêm da và cách điều trị xâm lấn.

Dịch tễ học

PIH là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây nên tình trạng biến đổi màu da. Mặc dù có thể xảy ra ở nhiều loại da khác nhau, hiện tượng này thường xuất hiện ở mức độ cao và tổn tại dai dẳng ở những làn da sẫm màu như Fitzpatrick IV-VI. Tỷ lệ PIH là như nhau đối với nam và nữ [87].

Hình 13.1. Tàng sắc tố sau viêm nghiêm trọng hình thành sau mụn trứng cá.
Hình 13.1. Tàng sắc tố sau viêm nghiêm trọng hình thành sau mụn trứng cá.

Nguyên nhân

PIH có thể được quan sát thấy sau các tình trạng viêm nội sinh hoặc ngoại sinh. Về cơ bản, bất cứ bệnh lý nào đi kèm với sự viêm da đểu có nguy cơ thúc đẩy hình thành PIH ở những cá thể có khả năng sản xuất melanin. Một số bệnh lý về da như mụn, viêm da dị ứng, viêm da tiếp xúc dị ứng, nhiễm sắc tố dầm dề (incontinenti pigmenti), lichen phảng (lichen lanus), lupus ban đỏ và xơ cứng bì khu trú (morphea) đểu có nguy cơ tạo PIH cao. Các yếu tỗ từ bên ngoài – cả vật lý và hóa học bao gồm chấn thương thực thể, bức xạ ion hóa và không ion hóa, nhiệt độ, vết cắn côn trùng, viêm da tiếp xúc, phản ứng độc tố ánh sáng (pho-totoxic reactions), điểu trị xâm lần bằng laser – đểu có thể gây tổn thương da kèm theo PIH sau đó.Trong quá trình hình thành PIH, dường như có sự tăng cường sản xuất melanin và/hoặc sự phân bổ bất thường của loại sắc tố này. Tuy nhiên, sinh lý bệnh chính xác về mối liên hệ giữa viêm da và biến đổi sắc tỗ vẫn chưa được hiểu một cách rõ ràng. Nhiều tác nhân kích thích có thể liên quan đến nhiều cơ chế khác nhau mối liên hệ giữa viêm da và biến đổi sắc tỗ vẫn chưa được hiểu một cách rõ ràng. Nhiều tác nhân kích thích có thể liên quan đến nhiều cơ chế khác nhau.
Một số chuyên gia cho rằng các chat trung gian hóa học có nguồn gốc từ acid arachidonic có thể đóng vai trò nhất định trong quá trình hình thành PIH trên da thông qua việc kích thích sự tổng hợp quá mức melanin cũng như sự vận chuyển những sắc tố này đến các tế bào sừng xung quanh. Tomita và cộng sự đã chứng minh rằng các tế bào sinh sắc tỗ ở biểu bì của người phát sinh nhiểu đuôi gai hơn đi kèm với sự gia tăng lượng tyrosinase khi được nuôi cây với một số chất chuyển hóa của acid arachidonic bao gồm prosta-glanding D2, leukotrien (LT) B4, LTC4, LTD4và LTE4 [87].

Phân loại lâm sàng

Ở PIH, các biến đổi sắc tố da có thể được quan sát thấy chủ yếu ở lớp biểu bì hoặc cả biểu bì và trung bì. Trong cả hai trường hợp, melanin ở lớp biểu bì đểu có sự gia tăng vể số lượng. Đối với sự tập trung của melanin ở lớp biểu bì, đèn Wood là một công cụ hữu hiệu trong việc xác định mức độ biến đổi sắc tố. Tuy nhiên, đối với các sắc tố nằm sâu bên trong da, ánh sáng này thường không có giá trị chẩn đoán. Vể mặt lâm sàng, sự lắng đọng nghiêm trọng của melanin ở lớp trung bì có thể là một thách thức điểu trị và thường tương đối khó khăn để có thể làm mờ các vết thâm sạm này.

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Việc chẩn đoán PIH thường dựa trên tiền sử và biểu hiện lâm sàng. Tình trạng này đặc trưng bởi các đốm hoặc 197Pagebookyhoc.commảng sẫm màu với mức độ khác nhau nằm giới hạn trong vùng tổn thương da có viêm trước đó. Các tổn thương gây viêm có thể tiến triển trong nhiều giai đoạn khác nhau ở những vùng giải phẫu khác nhau, điều này rất hữu ích cho việc chẩn đoán.
Mặt khác, sẽ tương đối khó khăn cho việc chẩn đoán nếu bệnh nhân không có tiền sử viêm cụ thể nào được ghi nhận. Nếu việc chẩn đoán không rõ ràng thì cần thiết phải thực hiện sinh thiết da. Vế mặt mô học, PIH được đặc trưng bởi sự gia tăng sỗ lượng melanin ở lớp biểu bì. Ngoài ra, sự xầm nhập rải rác quanh mạch của các đại thực bào chứa sắc tò (melanophage) ở lớp trung bì có thể được quan sát thấy. Sự hình thành các khoảng không bào ở lớp tê’ bào đáy và sự lắng đọng thành dải của mucin cũng đã được nhận thấy ở một số trường hợp PIH [87].

Chẩn đoán phân biệt

Các vấn đề cần được chẩn đoán phân biệt với tình trạng PIH bao gồm: tăng sắc tố cục bộ hoặc toàn thân do thuốc, bệnh da màu xám tro (ashy dermatosis), nám và lang ben. Việc dùng một số loại thuốc như tetracycline, thuốc trị sốt rét, arsen, bleomycindoxorubicin cũng có thể gây tăng sắc tố trên da [87].

Điều trị

Điều trị PIH bao gồm việc loại bỏ các sắc tố tổn tại trên da đồng thời ngăn chặn sự sản sinh các sắc tố mới. Đầu tiên, việc ngăn chặn hình thành các tổn thương mới có ý nghĩa cần thiết. Bên cạnh đó, việc hạn chê tối đa sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cũng vô cùng quan trọng để ngăn chặn sự sậm màu tiến triển của các tổn thương hiện có trên da. Trong một số trường hợp, việc áp dụng đơn thuần những biện pháp này cũng có thể giúp cải thiện tình trạng PIH bởi không giống như các vẩn để vể sắc tố khác, ở PIH, melanin sau khi được loại đi sẽ không tăng sinh trở lại (trong điểu kiện không có tác nhân kích thích). Tuy nhiên, trong trường hợp không đáp ứng hoặc đáp ứng chậm thì có thể phải cần có sự can thiệp của những liệu pháp điều trị bổ sung khác. Cần lưu ý rằng việc bảo vệ da trước ánh nắng mặt trời là vô cùng quan trọng. Các loại chóng nắng phổ rộng (cả ƯVA và UVB) nên được sử dụng mỗi ngày để hạn chế tối đa nguy cơ tăng sắc tố trở lại.

Điều trị tầng sắc tố bằng mesotherapy

Kỹ thuật mesotherapy được sử dụng để đưa các tác nhân làm sáng như glutathion, vitamin c và acid kojic trực tiếp vào các lớp của da. Sự cải thiện nhanh chóng có thể nhận thấy chỉ qua bốn lần điếu trị. ứng dụng mesotherapy trong điểu trị tăng sắc tố sau viêm có thể đem lại những lợi ích như: giảm sự hiện diện của các đốm đen, trẻ hóa làn da, cải thiện độ sáng, trung hòa các gốc tự do và cải thiện độ mịn màng cho da.

NÁM

Định nghĩa

Nám là một tình trạng rối loạn sắc tố biểu hiện bằng các vết hay mảng sậm màu ở một số vùng nhất định trên da. Nám thường xuất hiện ở phụ nữ, tuy nhiên cũng xảy ra ở khoảng 10% nam giới. Nó có thể hình thành ở tất cả mọi loại da nhưng đặc biệt phổ biên hơn đối với các làn da thuộc Fitzpatrick loại IV-VI. Nếu nám xuất hiện trong giai đoạn thai kỳ thì được gọi là “chloasma” hay “mặt nạ thai kỳ”.

Hình 13.2. Nám biểu hiện bằng các vết và mỏng sậm mờ trên vùng mặt
Hình 13.2. Nám biểu hiện bằng các vết và mỏng sậm mờ trên vùng mặt

Sinh bệnh học và các yếu tố nguy cơ

Enzym chịu trách nhiệm cho việc tổng hợp melanin là tyrosinase, một loại enzym oxy hóa chứa nguyên tử đồng có chức năng xúc tác sản xuất melanin thông qua thành phân trung gian L-dopa. Hoạt động của enzym tyrosinase có thể được điểu hòa bởi nhiều yêu tố. Ví dụ, sự tương tác của các tế bào sinh sắc tố (melanocyte) với 1,25-dihy-droxyvitamin D3, a-MSH và ịỉ-estradiol có thể làm gia tăng hoạt động của tyrosinase.
Mặc dù cơ chê’ bệnh sinh của nám cho đến nay vẫn chưa được hiểu một cách rõ ràng, việc tầm soát được các yếu tỗ nguy cơ sẽ rất hữu ích cho sự lựa chọn hướng tiếp ận thích hợp (chẳng hạn như ức chế trực tiếp hoặc gián tiếp hoạt động của tyrosinase, phá hủy tế bào sinh sắc tỗ melanocyte, tái thiết lập sự cân bằng nội tiết tố trong cơ thể,…) để mang lại hiệu quả điều trị cao nhất.
Tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trờiYếu tố quan trọng nhất đã được chứng minh vể khả năng thúc đẩy sự hình thành cũng như tiến triển của nám là sự tiếp xúc quá mức với ánh nắng mặt trời. Trong số những thành phần cẩu tạo của nắng, các bức xạ ƯV tỏ ra nguy hại nhất bởi các hoạt động thúc đẩy tổng hợp sắc tố melanin và tăng sinh tế bào melanocyte một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc kích thích sản sinh interleu-kin 1 (IL-1), endothelin 1, hormon kích thích a-melanocyte (a-MSH) và hormon vỏ thượng thận (ACTH).
Vai trò của ánh sáng nhìn thầy và bức xạ hồng ngoại đói với sự sản sinh sắc tố da tỏ ra không đáng kể so với tia uv, tuy nhiên cũng không thể bỏ qua. Mối liên hệ giữa việc tiếp xúc quá mức với nhiệt độ, ánh sáng nhân tạo cường độ cao và sự tiên triển trầm trọng của nám và/hoặc kém đáp ứng hơn với điều trị đã được báo cáo bởi một vài tác giả. Một bằng chứng gián tiếp khác vể vai trò của ánh sáng nhìn thấy cũng được để cập gần đây bởi Castanedo- Caza-res và cộng sự, họ chứng minh rằng việc sử dụng các công thức chống nắng hấp thu cả tia ƯV và ánh sáng nhìn thấy giúp tăng cường hiệu quả phân giải sắc tố da của hydro-quinone hơn là các sản phẩm chỉ có tác dụng đối với tia uv đơn độc.

Thai kỳ và thuốc tránh thaỉ

Sự thay đổi nồng độ các hormon trong cơ thể dù là trong giai đoạn thai kỳ hay do các liệu pháp điều trị hormon thay thế được xem là một trong những yếu tố chính có ảnh hưởng đến sự khởi phát và tiến triển của nám. Trong suốt thời gian thai kỳ, những sự thay đổi vể miễn dịch, nội tiết tố, chuyển hóa và hệ thống mạch máu đểu làm cho phụ nữ mang thai dễ phải đối mặt với một số biến đổi nhất định về da. Ngoài ra, một số nhà khoa học cho rằng những biên đổi vê’ nồng độ hormon bao gổm sự giảm thăp của estro-gen và sự tăng cao của LH do rối loạn chức năng buồng trứng cũng có thể là các nguyên nhân tiếm ẩn trong một số trường hợp nám vô căn.
Bên cạnh nám da trong thai kỳ, phụ nữ dùng thuỗc tránh thai có chứa progesterone hoặc phụ nữ sau mãn kinh được chỉ định dùng progesterone trong liệu pháp hormon thay thế cũng hình thành nám đáng kể trên da. Đáng chú ý, trái ngược với nám da trong thời gian mang thai, tình trạng tăng sắc tố do thuốc tránh thai không tự hổi phục theo thời gian. Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng sự biểu lộ các thụ thể estrogen và progesterone trong những trường hợp nám da cần phải được nghiên cứu nhiều hơn để có thể kết luận rõ ràng, từ đó tạo tiền để cho hướng phát triển mới trong điểu trị nám với các công thức điểu trị dùng ngoài kháng estrogen.

Bệnh hệ thống

Các bệnh hệ thống và tự miễn dịch có mối liên kết mạnh mẽ với sự phát triển cũng như biểu hiện của nám.

Một số bệnh (chẳng hạn như Addision) cần luôn luôn được theo dõi và đánh giá. Tự miễn dịch tuyên giáp cũng được xem xét là một yêu tố quan trọng trong sự khởi phát của nám bởi một số lượng đáng kể phụ nữ mắc bệnh Hashimoto đã được báo cáo xuất hiện nám trên da và đối với phụ nữ trong thai kỳ, nêu hình thành nám thì khả năng cao là đã có hoặc sẽ có dấu hiệu tự miễn dịch tuyến giáp.

Các nguyên nhân khác

– Mỹ phẩm: trước đây, mỹ phẩm thường được làm từ những nguyên liệu kém tinh khiết và có tính kích ứng, làm tăng độ nhạy cảm của da với ánh sáng từ đó gây nguy cơ tăng sắc tỗ da đáng kể. Các thành phẩn khác trong mỹ phẩm được cho rằng góp phần vào sự hình thành nám bao gồm một số loại acid béo, các tạp chầt quang hoạt trong dầu khoáng, thuốc nhuộm, para-phenylenediamine, hương liệu nước hoa,…
– Di truyền và chủng tộc: cho đến nay nguyên nhân này chủ yếu chỉ được đánh giá bởi một số báo cáo không thường xuyên về tình trạng nám xảy ra trong gia đình.
– Thuốc: nhiều loại thuốc khi được sử dụng có thể gây nên tình trạng tăng sắc tố da bao gồm các kim loại như ar-sen, sắt, đồng, bismuth, bạc, vàng, các loại thuốc gây phản ứng độc tố ánh sáng và thuốc chống động kinh.
– Ngoài ra, một số yếu tố như chế’ độ dinh dưỡng, bệnh lý vể gan và ký sinh trùng cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của nám.
– Trong một nghiên cứu về nám trên 210 bệnh nhân, tỷ lệ hình thành nám do các yếu tố nguy cơ đã được báo cao nhất là do tiếp xúc với ánh nắng mặt trời (100%), tiếp đến là thai kỳ (27%), mỹ phẩm (14%), di truyền (13%) và sử dụng thuốc tránh thai (6,3%) [112], [113].

Hình 13.3. Nám trung tâm mặt, nám vùng má, nám vùng cạnh hàm
Hình 13.3. Nám trung tâm mặt, nám vùng má, nám vùng cạnh hàm

Đặc điểm lâm sàng

Các biểu hiện lâm sàng của nám thường tiến triển nhanh chóng, đặc biệt là sau tiếp xúc với tia cực tím. Các vùng tổn thương có màu từ nâu nhạt đến sậm và thường có tính đối xứng. Ba dạng lâm sàng có thể phân biệt bao gồm:
Nám trung tâm mặt: nám tập trung ở các vùng má, trán, vùng da trên môi, mũi và cằm. Dạng này chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 63% bệnh nhân).
Nám vùng má: sắc tố phân bố ở các vùng má và mũi. Dạng này xảy ra ở khoảng 21% bệnh nhân.
Nám vùng cạnh hàm: sắc tố tập trung dọc theo vùng da cạnh hàm, chiếm khoảng 16% tổng số bệnh nhân.

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Mô bệnh học: vể cơ bản, nám được phân thành hai loại chính:
– Nám biểu bì: vùng tập trung chủ yếu của sắc tố da melanin là ở các lớp đáy biểu bì, lớp cận đáy (suprabasal) và đôi khi có thể hiện diện ở lớp sừng.
– Nám trung bì: melanin tập trung ở cả lớp trung bì nông và trung bì sâu.
Ánh sáng đèn Wood: kỹ thuật này tỏ ra hữu ích trong việc xác định độ sâu phân bỗ của sắc tố để dự đoán khả năng đáp ứng điểu trị của bệnh nhân. Nó có thể giúp phân biệt được bốn loại nám khác nhau:
– Nám biểu bì: sắc tố melanin tập trung ở lớp đáy biểu bì, lớp cận đáy và có thể ở cả lớp tế bào sừng. Vể mặt lâm sàng, nám có màu nâu nhạt trong điểu kiện ánh sáng tự nhiên và sẽ biểu hiện đậm hơn khi được soi dưới đèn.
-Nám trung bì: melanin tập trung ở lớp trung bì nông và trung bì sâu. Vể mặt lâm sàng, nám có màu nâu sậm đến xám trong điểu kiện ánh sáng tự nhiên và không biểu hiện đậm hơn khi được soi dưới đèn Wood.- – Nám hỗn hợp: sắc tố da melanin hiện diện ở cả lớp biểu bì và trung bì. Vế mặt lâm sàng, nám có màu nâu sậm trong điểu kiện ánh sáng tự nhiên và khi được soi dưới đèn Wood, nám có thể biểu hiện đậm hơn ở một số vùng nhất định và không đáp ứng ở những vùng khác.
– Nám không đáp ứng với ánh sáng đèn Wood: các vết nám có thể dễ dàng được quan sát thấy trong điểu kiện ánh sáng tự nhiên nhưng lại không cho đáp ứng gì với ánh sáng đèn Wood. Dạng này thường gặp ở các bệnh nhân có làn da thuộc Fitzpatrick loại VI với các mảng sắc tố có màu sắc khá tương đồng với vùng da gần kể và sắc tố da tập trung chủ yếu ở lớp trung bì [112].

Điêu trị

Việc điều trị nám có ý nghĩa quan trọng bởi tình trạng này ảnh hưởng khá tiêu cực đến chất lượng cuộc sống, làm giảm đáng kê’ sự tự tin trong công việc cũng như trong giao tiếp hàng ngày.

Mục tiêu điều trị:

– Loại bỏ các sắc tố melanin tồn tại trên da.
– Làm chậm lại sự tăng sinh và phát triển của các tê’ bào sinh sắc tố.
– ức chế sự hình thành đồng thời thúc đẩy sự phá hủy các túi chứa sắc tố (melanosome).
Nhìn chung, nám biểu bì thường cho đáp ứng điểu trị tốt hơn bởi sắc tố chỉ phân bố chủ yếu trên bề mặt.Một số lựa chọn điều trị:
– Chống nắng phổ rộng (SPF từ 30 trở lên kèm theo các thành phần chống ƯVA).- Các thành phần phần giải sắc tố:
• Các tác nhân ức chế tyrosinase (hydroquinon, acid azelaic, acid kojic).
• Các chầt chống oxy hóa (magie, acid ascorbic, al-pha-tocopherol).
• Các tác nhân ức chế tổnghợp melanin (acid retinoic, acid benzoic).
• Các thành phần tẩy da chết (AHA: acid glycolic, BHA: acid salicylic).
– Thay da hóa học:
• Thay da nông (TCA 15-20%, acid glycolic 50- 70%, acid salicylic 25%).
• Thay da trung bình (resorcinol, acid pyruvic 50%).
• Thay dakếthợp (acidsalicylic 25% + gelTCA 10%).
– Meso therapy- Laser [111].

Điều trị với mesotherapy

Cấu trúc làn da người gồm ba lớp chính là biểu bì, trung bì và hạ bì, trong đó biểu bì là lớp ngoài cùng đóng vai trò hàng rào bảo vệ làn da trước các tác nhân bất lợi từ môi trường cũng như ngăn ngừa sự mất nước giúp duy trì trạng thái sinh lý bình thường của da. Dù vậy, trung bì mới là lớp cấu trúc đóng vai trò quyết định đối với sức khỏe làn da và do vậy nó là mục tiêu tác động của hầu hết các loại mỹ phẩm. Tuy nhiên, tỷ lệ vượt qua được biểu bì để đến trung bì của hoạt chất với cách thức thoa ngoài da đơn thuần thường rất thấp. Để giải quyết vần để này, mesotherapy đã ra đời trở thành liệu pháp được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Các hoạt chất sẽ được vận chuyển vượt qua hàng rào biểu bì và đưa trực tiếp vào các lớp da mục tiêu thông qua các đầu kim nhỏ một cách hiệu quả, giúp sinh khả dụng của chúng tại vùng điểu trị gần như ở mức tối ưu. Khi được ứng dụng trong điểu trị nám kết hợp với các công thức hoạt chầt làm trắng hữu hiệu, mesotherapy sẽ giúp mang lại kết quả cải thiện đáng kể sau chuỗi 6-8 quy trình điểu trị (mỗi quy trình cách nhau khoảng 2-3 tuần).

Quy trình gợi ý (có thê điện di, lản kim hay tiêm trong da):

– Thực hiện tẩy da chết trên vùng da cần điều trị để loại bỏ lớp tê bào sừng và làm tăng tính thấm của da.- Làm sạch da với các sản phẩm dịu nhẹ.
– Tiêm một lượng vừa đủ hỗn hợp trên vùng da nhỏ (có thể sử dụng các công thức trong bảng “Một số công thức pha trộn gợi ý” bên dưới), đợi đến khi hấp thu hoàn toàn rổi tiếp tục với những vùng khác. Nên tuân thủ thời gian quy định bởi nhà cung cấp thiết bị. Nếu cần gel dẫn thì có thê’ pha trộn gel với hỗn hợp hoặc thoa gel lên da trước khi dùng thiết bị.
– Lau sạch lượng sản phẩm thừa khi kết thúc quy trình.
– Thoa kem dưỡng
– Ghi chú lại hỗn hợp sử dụng, vùng da điều trị và các yêu tố khác vào hồ sơ trị liệu của bệnh nhân.
– Thông tin cho bệnh nhân các vần để liên quan có ảnh hưởng đến kết quả điểu trị như chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt, các thói quen xấu, sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cũng như xây dựng chế độ sử dụng các sản phẩm dưỡng tại nhà phù hợp với tình trạng da của bệnh nhân.

xem thêm: Các nhóm cung cấp dưỡng chất cho da bạn nên biết

Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here