Sự đồng thuận và tính pháp lý trong việc thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín

Sự đồng thuận và tính pháp lý trong việc thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín

Tác giả: Christine Hamori, Paul Banwell, Red Alinsod

nhathuocngocanh.com – Bài viết Sự đồng thuận và tính pháp lý trong việc thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín được trích từ chương 3 sách Phẫu thuật Thẩm mỹ vùng kín : Chỉ định, Kỹ thuật thực hiện và Áp dụng lâm sàng.

Những điểm chính

  • Bs cần biết được những mong đợi của bệnh nhân trong lần can thiệp sắp tới.
  • Mong muốn của bệnh nhân phải thực tế, tương ứng với tình trạng lâm sàng của họ
  • Sự đồng thuận là đồng ý cho cả 1 quá trình chứ không chỉ đơn thuần là một chữ ký trên giấy.
  • Bác sĩ phẫu thuật nên giải thích kỹ cả ưu lẫn nhược điểm của phương pháp phẫu thuật cho bệnh nhân.

Những vấn đề về tính pháp lý trong thực hành y khoa

Các vấn đề pháp lý cơ bản về y tế bao gồm các vi phạm về pháp luật và đạo đức, sự đồng thuận, mức độ can thệp và chi phí cũng như sự bảo đảm cho kết quả của mỗi thủ thuật. Hầu hết các bệnh nhân nữ đều tự nguyện thực hiện phẫu thuật. Tuy nhiên xét về tính pháp lý và đạo đức y khoa, bác sĩ phải đạt được 4 yêu cầu như sau:

  • Có nghĩa vụ điều trị toàn diện cho bệnh nhân
  • Tuyệt đối không vi phạm các tiêu chuẩn đạo đức hoặc nghề nghiệp
  • Trách nhiệm trong điều trị và xử trí tình huống
  • Không gây tổn hại thêm cho bệnh nhân

Yếu tố đầu tiên cần thiết lập trong khiếu nại về sơ suất trong điều trị y tế là nghĩa vụ điều trị bệnh nhân. Nghĩa vụ này người Bs buộc phải hết lòng thực hiện khi bệnh nhân đã được nhập viện điều trị. Yếu tố thứ hai là vi phạm nghĩa vụ đó. Về căn bản không ai muốn thực hiện những sai phạm, nhưng giữa những chuyên khoa luôn tồn tại sự khác biệt trong chiến lược điều trị mà điều này hình thành nên sự vi phạm vào công tác điều trị toàn diện cho bệnh nhân. Chăm sóc tiêu chuẩn cho bất kỳ bệnh nhân nào đều bao gồm các liệu pháp đến từ nhiều chuyên khoa, mà nếu không có sự đồng thuận của hội đồng đạo đức y khoa hay các bác sĩ khác, điều này được coi là vi phạm. Yếu tố thứ ba, là tránh hành động dẫn tới các sai phạm (mặc dù đôi khi không điều trị cho bệnh nhân cũng là một sai phạm, vì thực tế thì họ cần được trị liệu). Các nguyên nhân này rất đa dạng, tùy theo từng trường hợp. Yếu tố cuối cùng là tổn hại cho bệnh nhân. Điều này có thể dễ gây hiểu lầm, vì trong quá trình liền vết mổ, bệnh nhân có thể xuất hiện những bất thường nhưng sẽ hồi phục ngay sau đó, và tất nhiên những bất thường này không được coi là tổn hại cho bệnh nhân. Các tổn hại thực sự như tình trạng đau đớn kéo dài sau phẫu thuật, phẫu thuật bổ sung hoặc phẫu thuật lại do các biến chứng không hồi phục và liền vết mổ chậm. Có thể thấy rằng nếu tuân theo các quy tắc chăm sóc tiêu chuẩn thì khả năng xảy ra tổn hại cho bệnh nhân là rất thấp.

Không đáp ứng được kỳ vọng của bệnh nhân và những bất đồng về chi phí điều trị cũng là nguyên nhân dẫn tới những vụ kiện tụng. Do đó việc giải thích kỹ cho bệnh nhân từng khâu trong toàn bộ quá trình là điều tối quan trọng trong công tác điều trị. Tôi nghĩ rằng các bác sĩ hãy khôn khéo trong việc lựa chọn bệnh nhân điều trị, tìm được những bệnh nhân phù hợp với mình là tốt nhất. Tuy nhiên điều này thường khó khăn, nhất là khi các bác sĩ mới chỉ thăm khám lần đầu, chưa tạo được thiện cảm nhất định cho bệnh nhân, thì sẽ thật khó để tìm được mục tiêu chung. Khuyên các bác sĩ nên thấu hiểu vấn đề của bệnh nhân, đồng cảm với họ và thực sự tận tình trong chăm sóc, điều này sẽ giúp bệnh nhân hài lòng, đồng thời Bs sẽ tránh được các rắc rối không mong muốn.

Các vấn đề pháp lý trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín

Phẫu thuật khu vực này có nhiều rủi ro và thậm chí dễ xảy ra biến chứng hơn các vùng khác nhiều, ngay cả khi đã được chăm sóc tốt nhất. Bệnh nhân nên chấp nhận các khó chịu thường gặp phải sau phẫu thuật, bao gồm sẹo, nhiễm trùng, chảy máu, giao hợp đau, chậm liền vết mổ, thậm chí là phải phẫu thuật lại nếu chưa đạt yêu cầu. Để bệnh nhân có thể chấp nhận được, bác sĩ phẫu thuật nên cẩn thận tư vấn ban đầu và trong suốt quá trình chăm sóc cho bệnh nhân, với lời trấn an “Chúng tôi không mong điều này xảy ra với bạn, nhưng vì chúng luôn tiềm ẩn, bạn nên biết về chúng”. Những yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng xuất hiện biến chứng như hút thuốc, thay đổi dinh dưỡng từ các quy trình ăn kiêng và giảm cân, ảnh hưởng của việc thường xuyên dùng thuốc giảm đau, và không tuân thủ các hướng dẫn sau phẫu thuật cũng như hạn chế hoạt động sẽ là những vấn đề Bs cần đánh giá chi tiết. Bệnh nhân nên được thông báo về các rủi ro khi họ quyết định thực hiện phẫu thuật và tất nhiên Bs sẽ không chịu trách nhiệm cho bất kỳ biến chứng nào nếu bệnh nhân không tuân thủ hướng dẫn điều trị. Tất cả bệnh nhân đều cần được ký vào một văn bản, trong đó nêu rõ yêu cầu tuân thủ các hướng dẫn trước và sau phẫu thuật, đồng thời giải thích rằng những bệnh nhân không tuân thủ sẽ chịu trách nhiệm về chi phí của bất kỳ phẫu thuật bổ sung nào. Ví dụ, những bệnh nhân phẫu thuật tạo hình môi âm hộ vẫn còn hút thuốc trước và/hoặc sau khi phẫu thuật có nguy cơ biến chứng vết mổ rất cao. Những bệnh nhân này nên ký một bản cam đoan nêu rõ rằng họ sẽ phải trả tiền cho bất kỳ can thiệp nào sau đó để giải quyết biến chứng.

Các bác sĩ phẫu thuật có thể dự đoán các biến chứng và thông báo cho bệnh nhân trước khi chúng xảy ra thì được coi là Bs giỏi; nhưng nếu xảy ra trường hợp ngược lại thì hầu như không ai chấp nhận và chỉ coi đó là cái cớ bao biện cho trình độ chuyên môn kém của họ. Lời khuyên tốt nhất mà tôi có thể đưa ra là thảo luận với bệnh nhân về tất cả những rủi ro và lợi ích cho bệnh nhân trước phẫu thuật đồng thời nêu rõ rằng mong muốn của họ có thực tế đối với tình trạng hiện tại của bệnh nhân hay không.

Bác sĩ cần nhận được sự đồng thuận của bệnh nhân trước tất cả các thủ/phẫu thuật. Chúng ta đều biết rõ điều này quan trọng, nhưng ít khi làm đầy đủ các bước để nhận được sự đồng ý của bệnh nhân. Các nghiên cứu về tim mạch cho thấy, bệnh nhân chỉ hiểu và lưu giữ lại khoảng 35% lượng thông tin chúng ta giải thích mỗi một lần thăm khám/tư vấn. Tuy nhiên, những dữ liệu này đã cũ và bằng cách trình bày thông tin theo cách phù hợp với bệnh nhân — kết hợp sự tiếp nhận thông tin từ thị giác, thính giác và xúc giác —tốc độ hiểu và lưu trữ thông tin của bệnh nhân có thể cao hơn nhiều. Thông qua sự hợp tác của bác sĩ phẫu thuật, điều phối viên, y tá và những người khác, kết quả có thể đạt được như ý muốn nếu bệnh nhân được nhận nguồn thông tin bằng cách họ dễ tiếp thu nhất. Càng tiếp xúc nhiều thì bác sĩ phẫu thuật càng hiểu rõ hơn về kỳ vọng của bệnh nhân và khả năng đạt được mục đích đó trên cơ sở tình trạng lâm sàng của họ, đồng thời bệnh nhân càng hiểu rõ hơn về các rủi ro và biến chứng có thể xảy ra.

Quá trình tiếp xúc và giải thích cho bệnh nhân đòi hỏi người Bs tính kiên nhẫn. Cần dành một khoảng thời gian thích hợp cho các câu hỏi và câu trả lời và hãy chắc chắn rằng bệnh nhân đã hiểu những gì có thể đạt được, những gì không cũng như những biến chứng có thể xảy ra. Việc này có thể mất nhiều thời gian thăm khám, tư vấn chứ không chỉ đơn thuần là một chữ ký trên giấy tờ. Đối với những người chưa hiểu, bác sĩ phẫu thuật khôn ngoan sẽ tiếp tục kiên trì giải thích, giúp bệnh nhân cân bằng được lợi ích và rủi ro có thể xảy ra với họ trước khi hoàn toàn đồng ý phẫu thuật. Và người Bs giải thích phải chính là người chịu trách nhiệm phẫu thuật cho bệnh nhân. Y tá hoặc điều phối viên thực hành có thể hỗ trợ nhưng không thể nói rõ và trả lời cặn kẽ các câu hỏi phẫu thuật cho họ.

Do biến thể giải phẫu khác nhau của vùng sinh dục, cần phải có các thủ thuật mới, hoặc các biến thể của kỹ thuật tiêu chuẩn để đạt được kết quả thẩm mỹ tốt nhất. Bệnh nhân cần được thông báo về các đường rạch bác sĩ sẽ thực hiện trước khi phẫu thuật để chắc chắn rằng chúng là hợp lý đối với tình trạng bệnh của họ. Xem lại hình ảnh trước và sau phẫu thuật (chụp với bệnh nhân ở tư thế sản khoa) là một bước quan trọng với tất cả các bệnh nhân thẩm mỹ bộ phận sinh dục. Vị trí sẹo có thể xuất hiện nên được chỉ ra cho bệnh nhân trước khi phẫu thuật.

Trước khi thực hiện một thủ thuật mới hoặc một biến thể của các kỹ thuật tiêu chuẩn, một bác sĩ phẫu thuật có kinh ng-hiệm có thể thông báo trước với bệnh nhân, “Tôi đang dựa vào kinh nghiệm lâm sàng và đào tạo của mình để quyết định phương thức phẫu thuật phù hợp nhất.”. Thông thường, các quy trình mới như vậy đều là các biến thể của các quy trình thường quy, được chấp nhận để tạo thuận lợi cho cả bác sĩ phẫu thuật lẫn bệnh nhân. Tuy nhiên, các bác sĩ phẫu thuật phải thông báo: “Đây là một thủ tục mới và đã được chấp nhận bởi các chuyên gia đầu ngành.” Quy trình này phải dựa trên những kiến thức chuyên ngành và bài báo có cơ sở, được bình duyệt và chấp nhận. Cần nói rằng, một quy trình hoàn toàn mới nên có sự chấp nhận của hội đồng chuyên môn y khoa, cũng như sự đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

Các biến thể của các thủ thuật tiêu chuẩn có thể không cần sự cho phép của hội đồng. Tuy nhiên, các ghi chép đầy đủ về thủ tục, kinh nghiệm liên quan đến thủ tục, rủi ro, nguy cơ, mục tiêu thực tế và các lựa chọn thay thế vẫn cần được nêu ra và thông báo cho bệnh nhân đầy đủ. Nếu không tuân thủ đúng, những bệnh nhân sau này đâm đơn kiện sẽ nói, “Tôi sẽ không bao giờ đồng ý với phẫu thuật đó nếu biết rằng nó là thử nghiệm và bác sĩ không có kinh nghiệm.”

Bác sĩ cần nằm được lý do đến phòng khám cũng như mục tiêu của bệnh nhân. Những kết quả không như mong đợi có thể là nguồn cơn của những vụ kiện. Thông qua các cuộc thảo luận thẳng thắn và cởi mở trong quá trình tư vấn, những mong muốn đó có thể được bệnh nhân bộc bạch. Hiếm khi các can thiệp phẫu thuật thẩm mỹ có thể giúp cải thiện hạnh phúc gia đình, đặc biệt khi chúng đã đổ vỡ sẵn. Nếu một bệnh nhân tiết lộ rằng lý do của cô ấy đến phẫu thuật là muốn cải thiện đời sống tình dục sau hôn nhân và sự thân mật nói chung thì cơ bản Bs vẫn sẽ hiểu được mình cần làm gì, tuy nhiên điều này không được ghi rõ trong giấy tờ. Khi bác sĩ phẫu thuật thấy rằng kỳ vọng bệnh nhân khó có thể đạt được, họ có trách nhiệm nêu rõ “điều đó thực sự rất khó/không khả thi” và do đó họ không đảm bảo rằng bệnh nhân sẽ được như mong muốn. Tuy nhiên, nếu mục tiêu của bệnh nhân có thể đạt được nếu áp dụng các biện pháp mới, Bs nên lựa chọn kỹ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn thực hiện, và đảm bảo rằng tỉ lệ thành công ở những trường hợp này là cao.

Các vấn đề bổ sung liên quan đến tính pháp lý bao gồm các vấn đề về chi phí. Cần có một thỏa thuận tài chính bằng văn bản rõ ràng, trong đó nêu rõ các chi phí, bao gồm phí phẫu thuật, phí cơ sở vật chất, phí gây mê/tê, chi phí xét nghiệm CLS và các chi phí phát sinh khác. Tôi khuyến cáo rằng không tính thêm phí phẫu thuật cho những phẫu thuật chỉnh sửa trong vòng 1 năm kể từ lần phẫu thuật đầu tiên để cải thiện/duy trì kết quả, với điều kiện bệnh nhân tuân thủ tất cả các hướng dẫn và thăm khám theo lịch trình. Phí bổ sung cho cơ sở vật chất và gây mê/tê có thể cần thiết trong một số trường hợp. Do đó, ngay cả khi bác sĩ phẫu thuật miễn chi phí cho các thủ/phẫu thuật chỉnh sửa, bệnh nhân vẫn có thể phải trả thêm phí phát sinh khác. Những bệnh nhân không tuân theo hướng dẫn, không tái khám, hút thuốc… sẽ không được miễn phí theo đúng quy định của thỏa thuận.

Bác sĩ phẫu thuật nên nắm được những chính sách của thỏa thuận đôi bên, bao gồm ‘bảo hành’ trong văn bản và ‘bảo hành’ giữa người với người. Bảo hành trên giấy tờ là một yếu tố cụ thể, chẳng hạn như ảnh chụp, bản vẽ, hoặc một thứ gì đó minh họa tình trạng trước và sau phẫu thuật có trong hồ sơ. Chúng cho thấy kết quả có thể đạt được ở trên bệnh nhân sua phẫu thuật. Khi không đạt được kết quả này, Bs có thể bị kiện vì đã vi phạm thỏa thuận đôi bên. Do đó, cần phải cẩn thận khi sử dụng các thiết bị trực quan để mô tả vết mổ, vết sẹo cũng như những hiểu lầm của bệnh nhân về kết quả. Sau đó, bệnh nhân nên được quan sát một sơ đồ chứa tất cả các khả năng có thể xảy ra với họ để giúp họ hiểu những gì đang diễn ra trên cơ thể mình, thay vì chỉ nói chung chung hoặc chắc chắn 1 trường hợp duy nhất.

Một bảo hành giữa người với người xuất hiện khi bệnh nhân có mong muốn mà phẫu thuật khó có thể đạt được. Ví dụ, một bệnh nhân tiết lộ rằng cô ấy có một chuyến công tác rất quan trọng đến một khu nghỉ mát ở bãi biển 2 tuần sau khi phẫu thuật. Nếu không xác định rõ với bệnh nhân những nguy cơ và rủi ro khi nơi lỏng việc chăm sóc vết mổ sau phẫu thuật, họ sẽ nghĩ rằng mình có thể tham gia cuộc họp này. Và tất nhiên nếu có biến chứng nào xảy ra với bệnh nhân, bác sĩ sẽ là người vi phạm. Do đó cần thảo luận kỹ với bệnh nhân, chỉ khác là, nội dung cuộc thảo luận/tư vấn sẽ không được ghi lại. Và khi chắc chắn bệnh nhân hiểu được mọi nguy cơ, nhưng vẫn muốn phẫu thuật, bác sĩ mới được quyền quyết định, dựa trên những cam đoan rõ ràng.

Nắm được các kỳ vọng và mục tiêu là rất quan trọng, để Bs có thể hiểu được mong muốn của bệnh nhân xuất phát từ họ hay ảnh hưởng của người bạn tình của họ và những người khác. Những phẫu thuật này nhằm giải quyết vấn đề tâm lý là chính. Do đó bác sĩ cần đưa ra tất cả các nguy cơ có thể có để bệnh nhân có thể cân nhắc, vì rõ ràng đây chưa phải là một trường hợp thực sự cần phẫu thuật. Các bác sĩ phẫu thuật phải hết sức thận trọng với những bệnh nhân đưa ra các kết quả mong đợi không thực tế hoặc nằm ngoài phạm vi chuyên môn. Việc nhận bệnh nhân, lấy tiền và phẫu thuật cho họ không đúng với chỉ định chuyên môn chỉ vì lý do bệnh nhân muốn làm vậy là điều tuyệt đối cấm kỵ trong nghề. Tôi thường tránh những ‘nhu cầu’ như thế ở bất kỳ bệnh nhân nào tới phòng khám. Trách nhiệm và nghĩa vụ của bác sĩ phẫu thuật là bảo vệ bệnh nhân, đôi khi khỏi chính họ. Đôi khi, một bệnh nhân trẻ tuổi sẽ yêu cầu phẫu thuật tạo hình môi âm hộ mặc dù khi thăm khám hoàn toàn bình thường. Những bệnh nhân này không nên phẫu thuật vì sẹo và rủi ro lớn hơn khả năng cải thiện thẩm mỹ. Nên nhớ, chúng ta kiếm sống bằng những bệnh nhân mà chúng ta chăm sóc và tạo dựng danh tiếng bằng những người chúng ta không chăm sóc.

Bác sĩ phẫu thuật phải lưu ý luôn luôn có một người chứng kiến khi thăm khám khu vực nhạy cảm này. Điều này thậm chí còn áp dụng cho cả nữ bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ và bệnh nhân nữ. Những người chứng kiến phải là người đủ tin cậy, không có quan hệ gì với bệnh nhân để đảm bảo tính xác thực của lời khai nếu có bất kỳ vấn đề liên quan đến kiện tụng nào xảy ra.

Các vấn đề về quyền riêng tư và bảo mật thông tin là mối quan tâm lớn của bệnh nhân khi tới những phòng khám như thế này. Do đó cần có một thỏa thuận chung về cách thức liên lạc giữa Bs và bệnh nhân, có thể qua thư, email, điện thoại nhà, điện thoại cơ quan, điện thoại di động và / hoặc mạng xã hội, để tiện nhất cho bệnh nhân cũng như đảm bảo thông tin được giữ bí mật tuyệt đối. Các thông tin mới hoặc dặn 33e-bacsy.comPhẫu thuật thẩm mỹ vùng Kíndò của Bs sẽ luôn được cập nhật/thông báo tới bệnh nhân tùy thuộc vào mong muốn của họ. Nếu muốn sử dụng kết quả (bằng hình ảnh) của các bệnh nhân đã từng điều trị, chúng ta cần tới sự đồng thuận từ bệnh nhân, HIPAA (Đạo luật về trách nhiệm giải trình và cung cấp bảo hiểm y tế) và HIPAA thương mai. Theo đó, HIPAA liên quan thương mại phải mô tả cụ thể nơi bức ảnh được sử dụng, trong bối cảnh nào và trong bao lâu.

Quan trọng là dữ liệu nhúng trong ảnh phải được làm sạch (che thông tin), ngăn chặn bất kỳ thông tin liên quan tới danh tính của bệnh nhân. Quyền riêng tư cá nhân của bệnh nhân sẽ được bảo đảm với tất cả nhân viên liên quan tới hồ sơ y tế của họ, ngay cả ở nơi công cộng, nếu Bs có gặp bệnh nhân: “Tôi đã nói với bệnh nhân của mình rằng tôi sẽ không thô lỗ nhưng sẽ không thừa nhận rằng tôi biết bạn để bảo vệ quyền riêng tư của bạn.”

Có rất nhiều rủi ro trong mọi lĩnh vực của phẫu thuật thẩm mỹ. G Law và Martello đã viết rất nhiều về sự cân bằng giữa lợi ích và rủi ro khi phẫu thuật. Hình 3.1 cho thấy khả năng rủi ro sẽ cao hơn nếu bệnh nhân có ít dị tật/bất thường và ngược lại. Những bệnh nhân có bất thường/biến dạng lớn và ít quan tâm đến chúng (bên phải) thường sau phẫu thuật sẽ có kết quả tốt hơn (theo cảm nhận của họ) so với bệnh nhân có ít biến dạng nhưng rất quan tâm tới chúng. Cần thận trọng khi tiếp cận với những trường hợp bệnh nhân nằm ở nhóm trên cùng bên trái vì họ thực sự là những ‘khách hàng’ khó tính. Mặc dù vậy, nếu Bs luôn tận tình thăm hỏi, chẩn đoán đúng và điều trị theo phác đồ tiêu chuẩn và thuận tiện nhất cho bệnh nhân thì họ vẫn sẽ luôn hài lòng.

Kết luận

CHƯƠNG này nhằm mục đích hướng dẫn và hỗ trợ chăm sóc bệnh nhân đang cân nhắc hoặc đã có chỉ định phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín. Có thể thấy vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến chi phí điều trị cũng như những thay đổi tâm lý sau trị liệu. Phương pháp tiếp cận theo hệ thống sẽ giúp Bs điều trị toàn diện và đạt được mức hài lòng cao nhất từ bệnh nhân.

Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here