TẬP 1
- Lịch sử Dược điển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Hội đồng Dược điển Việt Nam VI
- Các cộng tác viên
- Các cơ quan và đơn vị tham gia xây dựng Dược điển Việt Nam VI
- Danh mục các chuyên luận mới so với DĐVN V
- Danh mục các chuyên luận DĐVN V có sửa đổi bổ sung
- Quy định chung
- Ký hiệu các chữ viết tắt
- Chuyên luận: Nguyên liệu hóa dược và thành phẩm hóa dược (Vần A đến H)
- Bảng tra cứu tên tiếng Anh, mã số định danh của các nguyên liệu hóa dược trong Dược điển Việt Nam VI (Vần A đến H)
- Mục lục tra cứu theo tên Việt Nam
VỪNG ĐEN (Hạt)
VỪNG ĐEN (Hạt)
Sesami Nigrum Semen
Mè đen, Hắc chi ma, Chi ma nhân
Hạt già được làm khô của cây Vừng đen (Sesamum indicum DC.), họ Vừng (Pedaliaceae). Khoảng tháng 6 đến tháng 8, quả Vừng bắt đầu chín, quả và lá đều có màu vàng, thu hái về phơi nắng. Quả vừng tự tách hạt ra, đập lấy hạt phơi khô.
Mô tả
Hạt dẹt, hình trứng dài, 1 đầu nhọn, 1 đầu tròn, dài chừng 3 mm (có khi tới 5 mm), rộng 2 mm. Mặt ngoài màu đen, nhẵn bóng hoặc hơi có vân lưới. Có hạt noãn màu nâu ở đỉnh quả (đầu nhọn). Vỏ hạt mỏng, 2 lá mầm màu trắng có dầu. Mùi thơm, vị hơi ngọt.
Bột
Bột màu nâu xám hoặc đen nâu, có mùi thơm, vị hơi ngọt, miết lên tay thấy nhờn, bết dính. Quan sát trên kính hiển vi thấy: Mảnh mô mềm gồm các tế bào hình đa giác, thành mỏng, chứa đầy tinh bột và những giọt dầu. Nhiều hạt tinh bột dính nhau thành đám hoặc nằm riêng rẽ, kích thước thay đổi, hình đa giác hoặc bầu dục, rốn hạt rõ. Tinh thể calci oxalat hình cầu hoặc gần cầu rải rác hoặc nằm trong tế bào biểu bì vỏ quả, đường kính 14 µm đến 38 µm. Tinh thể calci oxalat hình trụ rải rác, đường kính 2 µm đến 12 µm, dài 24 µm.
Định tính
A. Lấy 1 g dược liệu đã giã giập, thêm 10 ml ether dầu hỏa (60 °C đến 90 °C) (TT), ngâm trong 1 h. Gạn lớp chất lỏng vào một ống nghiệm, thêm 10 ml acid hydrocloric (TT) có chứa 0,1 g đường trắng (TT), lắc trong 30 s, màu hồng xuất hiện trong lớp acid và dần dần chuyển sang màu đỏ khi để yên.
B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: Cyclohexan – ether – ethyl acetat (20 : 5,5 : 2,5).
Dung dịch thử: Tán nhỏ 0,5 g dược liệu, thêm 20 ml ethanol (TT), lắc siêu âm 20 min, lọc, bay hơi dịch lọc trên cách thủy tới khô. Hòa tan cắn trong 1 ml ethanol (TT), để yên, dùng lớp dung dịch ở phía trên làm dung dịch chấm sắc ký.
Dung dịch dược liệu đối chiếu: Dùng 0,5 g hạt Vừng đen (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, lấy bản mỏng ra, để khô trong không khí, phun dung dịch acid sulfuric 10 % trong ethanol (TT), sấy bản mỏng ở 100 °C đến 105 °C cho đến khi các vết hiện rõ. Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.
Độ ẩm
Không được quá 7,0 % (Phụ lục 12.13).
Tạp chất
Không được quá 3 % (Phụ lục 12.11).
Tro toàn phần
Không được quá 8,0 % (Phụ lục 9.8). Dùng 1,0 g dược liệu.
Tro không tan trong acid
Không được quá 1,0 % (Phụ lục 9.7).
Hàm lượng chất béo
Không ít hơn 30,0 %, tính theo dược liệu khô kiệt.
Cân chính xác khoảng 10 g dược liệu (bột nửa thô), đặt vào dụng cụ Soxhlet, thêm 100 ml ether ethylic (TT), đun trên cách thủy sôi 5 h. Chuyển dịch chiết vào bình thủy tinh đã cân bì trước, cô trên cách thủy đến cạn. Sấy cắn ở 105 °C trong 3 h, lấy ra để nguội trong bình hút ẩm 60 min, cân xác định khối lượng cắn. Tính phần trăm lượng cắn thu được theo dược liệu khô kiệt.
Chế biến
Vừng sao: Lấy hạt vừng đã phơi khô, sàng sảy bỏ tạp chất và hạt lép, cát bụi. Khi dùng sao có mùi thơm rồi tán bột. Nếu ép lấy dầu làm thuốc thì sao khô giòn.
Bảo quản
Dược liệu chưa chế biến: Để trong đồ đựng kín, nơi khô ráo, tránh mọt.
Dược liệu đã chế biến: Để trong đồ đựng kín, nên dùng trong 7 ngày sau khi chế biến. Nếu đã bị ẩm chảy nước không được dùng.
Tính vị, quy kinh
Vị ngọt, tính bình. Vào các kinh can, thận, tỳ, phế. Đông y xếp Hắc chi ma vào nhóm thuốc bổ âm.
Công năng, chủ trị
Tư bổ gan thận, nhuận táo hoạt tràng. Chủ trị: Dưỡng huyết, cầm huyết, thông đại tiện do can thận âm hư làm dịch khô huyết nhiệt. Tóc bạc sớm. Sau khi sinh ít sữa, đại tiện táo kết. Can thận hao suy làm đầu nặng, đau đầu, hoa mắt, tai ù. Đại tràng nhiệt làm đại tiện táo bón.
Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng từ 12 g đến 15 g. Dạng thuốc bột dùng hoặc làm hoàn tán.
Trị đại tràng nhiệt làm đại tiện táo bón: Trộn bột vừng đen với mật ong vừa đủ dùng.
Trị các chứng do can thận âm hư và can thận hao suy: Phối hợp lá Vừng phơi khô sao cùng hạt vừng (lượng bằng nhau), tán bột quyện với mật ong vừa đủ dùng.
Kiêng kỵ
Người tỳ hàn, đại tiện lỏng khi dùng giảm liều lượng hoặc điều chỉnh cho phù hợp. Trong trường hợp này có thể trộn muối vừng vào cơm ăn thay thức ăn.
Ghi chú
Vừng có 2 loại màu đen và màu ngà vàng (thường gọi vừng trắng). Làm thuốc chỉ dùng vừng có màu đen.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1604-1605, tải PDF tại đây.
