TỲ BÀ DIỆP - họ Hoa hồng (Rosaceae) - Dược điển Việt Nam 6


TỲ BÀ DIỆP

27/05/2026
TỲ BÀ DIỆP

TỲ BÀ DIỆP

Eriobotryae Folium

Lá Nhót tây, Nhót Nhật Bản

Lá bánh tẻ (lá không già, không non) được làm khô của cây Tỳ bà (Eriobotrya japonica (Thunb.) Lindl.), họ Hoa hồng (Rosaceae). Thu hái lá quanh năm nhưng vào đầu mùa hạ (tháng 4 – 5) là tốt nhất. Thu hái lá bánh tẻ, lấy các lá tươi, mỗi lá nặng 40 g (đem phơi khô sẽ được khoảng 13 g) là tốt nhất. Loại bỏ tạp chất, phơi khô.

Mô tả

Lá hình thuôn hay hình trứng dài, dài 12 cm đến 30 cm, rộng 4 cm đến 9 cm, chóp lá nhọn, gốc lá hình nêm, mép lá có răng cưa thưa hoặc nguyên về phía gốc lá. Mặt trên lá màu lục xám, màu vàng nâu hoặc màu đỏ nâu, tương đối nhẫn. Mặt dưới lá màu nhạt hơn, có nhiều lông nhung màu vàng, mọc dày. Gân lá hình lông chim, gân giữa lồi lên ở mặt dưới, gân bên có 15 đến 20 đôi. Cuống lá rất ngắn, phủ lông mao màu vàng nâu. Lá dày, chất cứng, giòn, dễ bẻ gãy; không mùi, vị hơi đắng.

Ghi chú: Loại lá to khi phơi khô có màu xanh lục hay màu hơi nâu hồng, không sâu mọt, không lẫn lá úa vàng là loại tốt.

Vi phẫu

Tế bào biểu bì trên hình chữ nhật, bên ngoài là lớp cutin dày. Tế bào biểu bì dưới mang nhiều lông che chở đơn bào, thường bị cong, phần nhiều có hình chữ V gần gân giữa lá, lỗ khí nhìn thấy rõ. Mô giậu có 3 đến 4 hàng tế bào, mô khuyết thưa, chứa tỉnh thể calci oxalat hình lăng trụ, đôi khi cụm lại thành từng đám. Bó mạch của gân giữa gần như một vòng tròn. Sợi xếp thành vòng tròn không liên tục, vách hóa gỗ, bao quanh là các tế bào mô mềm có chứa các tỉnh thể calci oxalat hình lăng trụ hợp thành sợi tỉnh thể. Các tế bào chứa chất nhày và các tỉnh thể calci oxalat hình lăng trụ rải rác trong mô mềm.

Định tính

Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).

Bản mỏng: Silica gel GF 254

Dung môi khai triển: Toluen – aceton (5: 1).

Dung dịch thử: Lấy khoảng 1 g bột dược liệu, thêm 20 ml ethanol (TT), lắc siêu âm trong 20 min, lọc. Cô dịch lọc trên cách thủy đến cạn, hòa cắn trong 5 ml ethanol (TT) làm dung dịch thử.

Dung dịch chất đối chiếu: Hòa tan acid ursolic chuẩn trong ethanol (TT) để được dung dịch có nồng độ 1 mg/ml.

Dung dịch dược liệu đối chiếu: Nếu không có acid ursolic, lấy khoảng 1 g bột Tỳ bà diệp (mẫu chuẩn), chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 1 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng. Phun dung dịch acid sulfuric 10% trong ethanol (TT). Sấy ở 105 °C cho đến khi xuất hiện vết. Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết tương đương về vị trí và cùng màu với vết acid ursolic trên sắc ký đồ của dung dịch chất đối chiếu hoặc trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.

Độ ẩm

Không được quá 13,0% (Phụ lục 9.6, 1 g, 80 °C, 3 h).

Tạp chất

Không được quá 1,0% (Phụ lục 12.11).

Tro toàn phần

Không được quá 7,0% (Phụ lục 9.8).

Tỷ lệ vụn nát

Qua rây có kích thước mắt rây 3,150 mm: Không được quá 5,0% (Phụ lục 12.12).

Chất chiết được trong dược liệu

Không dưới 10,0%, tính theo dược liệu khô kiệt. Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10). Dùng nước làm dung môi.

Chế biến

Tỳ bà diệp thái sợi: Đề một cái sàng trên một chậu nước vừa đủ ngập, đề lá Tỳ bà lên sàng, dùng bàn chải mềm chải nhẹ hoặc lấy vải màn gói lá lại rồi chải thật sạch lông. Nếu còn sót lông khi uống vào bệnh nhân bị ngứa cổ họng và ho. Để ráo nước, thái sợi nhỏ, phơi khô, dùng sống để trị ho có khí nghịch suyễn, khát nước.

Mô tả: Các sợi nhỏ có một mặt màu lục sẫm, nâu vàng hoặc nâu đỏ, tương đối mịn. Mặt còn lại có gân lá nhô lên. Chất dai, giòn; không mùi, vị hơi đắng.

Định tính, Độ ẩm, Tro toàn phần, Tỷ lệ vụn nát, Chất chiết được trong dược liệu: Yêu cầu và phương pháp thử như dược liệu chưa thái phiến.

Tỳ bà diệp tẩm mật sao (sao mật): Mật ong được hòa loãng bằng nước sôi, trộn đều với Tỳ bà diệp thái sợi, ủ 3 h đến 4 h cho mật thấm đều, cho vào chảo sao nhỏ lửa đến khi có mùi thơm, cầm phiến lá không dính tay, lấy ra và để nguội. Dùng 1 kg Mật ong cho 10 kg Tỳ bà diệp. Sao mật là đề nhuận phế, giảm ho.

Tỳ bà diệp tẩm nước gừng sao (sao gừng): Cứ 10 kg lá khô dùng 500 g Gừng tươi, cho nước sạch vào Gừng tươi giã nát vừa đủ vắt lấy nước cốt. Tầm đều, ủ 5 h cho nước gừng thẩm thấu vào lá, cho vào chảo đun nhỏ lửa đảo đều, khi có mùi thơm, lá hơi ngà vàng là đạt (chú ý không để quả lừa cháy làm mất tác dụng). Sao gừng để giáng vị khí hóa đờm, đau vùng thượng vị.

Bảo quản

Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô, mát.

Dược liệu đã chế biến dễ mốc, cần để trong đồ đựng kín, nên dùng 20 ngày đến 30 ngày sau khi chế biến.

Tính vị, quy kinh

Vị đắng, tính hơi hàn. Vào các kinh phế, vị.

Công năng, chủ trị

Thanh phế, hòa vị, giáng khí, hóa đờm, giáng nghịch chỉ nôn. Chủ trị: Phế nhiệt ho, tức ngực khi ho có cơn suyễn đi kèm, vị nhiệt khí nghịch nôn mửa.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng từ 6 g đến 12 g, dạng thuốc sắc. Trường hợp bệnh ho nhưng thiên về phế, có suyễn khát nước dùng 50% sống, 50% sao mật. Nếu ho nhiều đờm khí nghịch đầy tức, nôn mửa dùng 50% lá tươi, 50% sao gừng.

Kiêng kỵ

Hư hàn ăn không tiêu nôn mửa, ho do phong nhiệt không dùng.

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1594-1595, tải PDF tại đây 

THÔNG TIN TƯ VẤN