TÔ MỘC hay Gỗ vang, họ Đậu (Fabaceae) - Dược điển Việt Nam 6


TÔ MỘC

27/05/2026
TÔ MỘC

TÔ MỘC

Sappan Lignum

Gỗ vang

Gỗ lõi để nguyên hay chẻ nhỏ được làm khô của cây Vang (Caesalpinia sappan L.), họ Đậu (Fabaceae). Thu hoạch vào cuối mùa thu, chặt những cây gỗ già, đẽo bỏ phần gỗ giác trắng, lấy phần gỗ đỏ bên trong, cưa thành khúc, chẻ nhỏ, phơi hoặc sấy khô.

Mô tả

Dược liệu có hình trụ hay nửa trụ tròn, đường kính từ 3 cm đến 12 cm, hay những thanh nhỏ, dài 5 cm đến 10 cm. Mặt ngoài các miếng lớn có màu đỏ vàng đến đỏ nâu, có vết dao đẽo và vết cành, thường có khe nứt dọc. Mặt cắt ngang hơi bóng, vòng tuổi thấy rõ rệt (màu da cam), có thể thấy màu nâu tối, có các lỗ nhỏ (mạch gỗ). Dễ tách thành từng mảnh theo thớ gỗ, tủy có lỗ rõ. Các thanh được chẻ nhỏ có màu hồng đỏ, có thể có những chỗ có màu nhạt hay đậm hơn. Chất cứng, nặng, không mùi, vị hơi se.

Ghi chú: Loại dược liệu chắc nặng, màu ánh vàng hoặc màu đỏ sẫm là loại tốt (thu hoạch từ thân cây càng to càng có chất lượng tốt).

Vi phẫu

Mặt cắt ngang có các tia gồm 1 hàng đến 2 hàng tế bào rộng. Mạch gỗ tròn, đường kính tới 160 µm, thường chứa chất màu vàng nâu hay nâu đỏ. Sợi gỗ thường có hình nhiều cạnh, thành rất dày. Tế bào mô mềm trong gỗ có thành dày hóa gỗ, một số chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ. Mô mềm tủy gồm các tế bào hình nhiều cạnh không đều, thành hơi hóa gỗ, có lỗ.

Bột

Màu cam. Quan sát trên kính hiển vi thấy: Nhiều mảnh mạch điểm, kích thước thay đổi. Mảnh mô mềm tủy tế bào có thành mỏng, đôi khi thành hơi hóa gỗ, có lỗ thủng. Sợi dài khoảng 400 µm, rộng khoảng 12 µm, thành dày, khoang hẹp, đứng riêng lẻ hay chụm lại thành từng bó. Tia ruột hợp thành góc với bó sợi, tạo thành các ô vuông mảnh mô mềm thành dày hóa gỗ, ít thấy tinh thể calci oxalat.

Định tính

A. Lấy một miếng dược liệu, nhỏ dung dịch calci hydroxyd bão hòa (TT) lên bề mặt, xuất hiện màu đỏ thẫm. 

B. Lấy 10 g bột dược liệu, thêm 50 ml nước, đun cách thủy 30 min, thỉnh thoảng lắc đều, lọc. Dịch lọc có màu đỏ da cam, quan sát dưới ánh sáng tử ngoại (366 nm) có ánh lục vàng. Lấy 5 ml dịch lọc, thêm 2 giọt dung dịch natri hydroxyd 10% (TT) xuất hiện màu đỏ thắm, quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm, dung dịch có màu xanh lơ. Khi acid hóa dung dịch này bằng dung dịch acid hydrocloric 10% (TT) sẽ có màu da cam, quan sát dưới ánh sáng từ ngoại ở bước sóng 366 nm sẽ có ánh lục vàng.

C. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).

Bản mỏng: Silica gel G.

Dung môi khai triển: Cloroform – aceton – acid formic (8:4:1).

Dung dịch thử: Lấy 1 g bột dược liệu, thêm 15 ml ethanol 95% (TT), siêu âm trong 30 min. Lọc, lấy dịch lọc cô trên cách thủy tới căn. Hòa căn trong 2 ml ethanol 95% (TT), được dung dịch thử.

Dung dịch dược liệu đối chiếu: Lấy 1 g bột Tô mộc (mẫu chuẩn), chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 20 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi khai triển, để khô bản mỏng, phun dung dịch kali hydroxyd 3% trong methanol (TT) rồi quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.

Độ ẩm

Không quá 11,0% (Phụ lục 9.6, 1 g, 105 °C, 5 h).

Tro toàn phần

Không quá 1,0% (Phụ lục 9.8).

Chất chiết được trong dược liệu

Không được dưới 8,5%, tính theo dược liệu khô kiệt. Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10). Dùng ethanol 95% (TT) làm dung môi.

Chế biến

Tô mộc phiến: Lấy dược liệu chưa chẻ thành phiến, chẻ nhỏ thành các mảnh dài 5 cm đến 10 cm (càng nhỏ càng tốt), phơi khô làm thuốc sắc.

Tô mộc tán bột: Cho dược liệu phiến vào thạp bằng đồng, đổ ngập nước, đun sôi còn 1/3 lượng nước thì lấy nước sắc ra, lại đổ ngập nước và đun lặp lại 2 lần nữa. Gộp nước sắc của 3 lần đun, cô đặc cho đến dạng cao đặc (thể chất sền sệt), sấy nhẹ cho khô, tán thành bột để làm viên hoàn theo yêu cầu của bài thuốc.

Bảo quản

Dược liệu đã chẻ nhỏ để làm thuốc phiến để nơi khô ráo, tránh ẩm mốc, đổi màu, nếu đổi màu không được dùng. Thuốc bột để vào lọ đậy kín, nên dùng trong 12 tháng sau khi chế biến.

Tính vị, quy kinh

Vị ngọt, mặn, tính bình. Vào các kinh tâm, can, tỳ.

Công năng, chủ trị

Hành huyết, tán ứ, thông kinh lạc, tiêu thũng, giảm đau. Chủ trị: Kinh nguyệt bế tắc, hành kinh đau bụng, sau khi sinh huyết ứ trong tử cung gây sốt đau bụng (sản hậu ứ huyết), đau tức vùng ngực, chấn thương tụ máu, lỵ cấp tính, viêm ruột tiêu chảy do nhiễm khuẩn đường ruột.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng từ 8 g đến 20 g, dạng thuốc sắc. Chế bột làm viên hoàn theo yêu cầu của bài thuốc. Nếu dùng bột vào thuốc sắc thì dùng 0,5 g đến 2 g (xung phục).

Kiêng kỵ

Người huyết hư không có ứ trệ, tràng nhiệt táo kết không được dùng.

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1576-1577, tải PDF tại đây

THÔNG TIN TƯ VẤN