THỤC ĐỊA: Các thử nghiệm kiểm định, bảo quản - Dược Điển Việt Nam 6


THỤC ĐỊA

27/05/2026
THỤC ĐỊA

THỤC ĐỊA

Rehmanniae glutinosae Radix Praeparata

Rễ củ đã được chế biến của cây Địa hoàng [Rehmannia glutinosa (Gaertn.) Libosch.], họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae).

Chế biến

Có nhiều phương pháp chế biến Thục địa, nhưng thường dùng một trong ba cách dưới đây:

Cách 1: Lấy 10 kg Sinh địa rửa sạch đất cát, để ráo. Lấy 300 g bột Sa nhân, thêm 5 L nước sạch, đun cạn còn khoảng 4,5 L, lấy nước Sa nhân tẩm vào Sinh địa đã rửa sạch rồi xếp vào trong thạp đồng, thêm nước sa nhân còn lại, thêm 100 g Gừng tươi đã giã nhuyễn, cho thêm nước đã đun sôi cho ngập hết Sinh địa (cao hơn mặt dược liệu 2 cm đến 3 cm), nấu trong 2 ngày đêm. Khi sôi đun nhỏ lửa, nước cạn đến đâu thì cho thêm nước đun sôi vào đến đó để mức nước ngập củ như lúc đầu. Nấu cho củ chín mềm đều, khi nấu phải đảo luôn, nếu nấu không kỹ thì có nấu lại củ không mềm được (kém chất lượng). Lúc cuối cùng thì để nước cạn còn 1/3, vớt các củ ra để cho ráo nước, lấy nước nấu còn lại pha với rượu theo tỷ lệ 2 phần nước một phần rượu trắng 40° để tẩm vào củ cho thật đều, rồi nấu (đồ) trong 3 h, lấy củ ra phơi trong bóng râm cho se rồi lại tẩm và nấu trong 3 h. Làm nhiều lần như vậy cho đến khi hết nước Sa nhân, Gừng và rượu thì thôi. Làm được 9 lần tẩm, đồ, phơi thì tốt. Trường hợp hết nước trước thì tiếp tục tẩm rượu và nấu tiếp, vớt ra phơi cho gần khô, bóc bỏ vỏ còn sót lại, lấy phần thịt bên trong có màu đen tuyền gọi là Thục địa. Đem thái lát dày hoặc miếng, phơi hoặc sấy nhẹ đến khô sờ không dính tay.

Cách 2: Lấy 10 kg Sinh địa rửa sạch, ủ 2 ngày đêm. Lấy 5 L rượu 40° hòa với 100 g bột Sa nhân, ngâm trong 5 đến 7 ngày đêm, lấy nước Sa nhân và rượu tầm bóp từng củ Sinh địa cho thật thấm vào bên trong. Cho Sinh địa và dịch còn lại vào thạp đồng, đậy kín, đun cách thủy 3 ngày đêm. Lấy ra, ngày phơi trong bóng râm hoặc sấy nhẹ, đến tối tẩm đều với nước thục còn lại đã thêm 1/2 rượu. Ngày hôm sau lại đun cách thủy trong 3 h rồi lại đem phơi. Công việc tẩm, chưng, phơi làm cho đến hết nước thục thì thôi, nếu làm được 9 lần gọi là cửu chưng cửu sái thì càng tốt. Lần cuối vớt ra phơi trong bóng râm cho khô, bóc bỏ vỏ còn sót lại, lấy phần thịt bên trong gọi là Thục địa.

Cách 3: Lấy Sinh địa đã rửa sạch, cho vào thùng, xếp củ to ở dưới, củ nhỏ ở trên, thêm rượu với nước cho ngập dược liệu. Cứ 100 kg Sinh địa dùng 30 – 50 L rượu 40°, 20 – 30 lít nước. Đun đến sôi rồi tiếp tục đun cho đến cạn và Sinh địa chín mềm đều, lấy ra phơi đến khi lớp dịch bao quanh ngoài vỏ củ Sinh địa hơi khô, đem thái thái lát dày hoặc cắt thành miếng, phơi hoặc sấy nhẹ đến khô (sờ không dính tay), dược liệu có màu đen nhánh gọi là Thục địa.

Mô tả

Phiến dày hoặc khối không đều. Mặt ngoài bóng. Chất mềm, dai, khó bẻ gãy. Mặt cắt ngang đen nhánh, mịn bóng. Không mùi, vị ngọt.

Định tính

Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).

Bản mỏng: Silica gel GF254.

Dung môi khai triển: Ethyl acetat – methanol – acid formic (16 : 0,5 : 2).

Dung dịch thử: Lấy 1 g dược liệu đã cắt nhỏ, thêm 50 ml methanol (TT) 80%, lắc siêu âm 30 min, lọc. Cô dịch lọc trên cách thủy đến cạn, hòa cắn trong 5 ml nước. Lắc với n-butanol đã bão hòa nước (TT) 4 lần, mỗi lần 10 ml. Gộp dịch chiết n-butanol, cô đến cạn. Hòa cắn trong 2 ml methanol (TT) làm dung dịch chấm sắc ký.

Dung dịch chất đối chiếu: Hòa tan verbascosid chuẩn trong methanol (TT) để được dung dịch có nồng độ khoảng 1 mg/ml.

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai, để khô bản mỏng ở nhiệt độ phòng, phun dung dịch 2-aminoethyl diphenylborinat (TT) 1% trong methanol (TT), sấy bản mỏng ở 105 °C trong 5 min. Quan sát bản mỏng dưới ánh sáng tử ngoại tại bước sóng 366 nm. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết tương đương về vị trí và cùng màu với vết verbascosid trên sắc ký đồ của dung dịch chất đối chiếu.

Độ ẩm

Không được quá 18,0% (Phụ lục 12.13).

Tro toàn phần, Tro không tan trong acid, Chất chiết được trong dược liệu

Phải đáp ứng các yêu cầu và phương pháp thử đã mô tả trong chuyên luận Sinh địa.

Định lượng

Phương pháp sắc ký lỏng (Phụ lục 5.3).

Pha động: Acetonitril – dung dịch acid acetic 0,1% (16 : 84).

Dung dịch thử: Cắt một lượng dược liệu thành những mảnh nhỏ (kích thước khoảng 5 mm × 5 mm), sấy ở 80 °C, dưới áp suất giảm trong 24 h rồi nghiền thành bột thô. Cân chính xác khoảng 2 g bột dược liệu vào một bình nón nút mài, thêm chính xác 100 ml methanol (TT), đậy nút, cân. Đun sôi hồi lưu 30 min, để nguội và cân lại. Bổ sung khối lượng mất đi bằng methanol (TT), lắc đều, lọc. Lấy chính xác 50 ml dịch lọc, Cất thu hồi dung môi trong chân không đến gần khô. Dùng pha động để hòa tan và chuyển toàn bộ cắn vào bình định mức 10 ml, thêm pha động vừa đủ đến vạch, lắc đều, lọc qua màng lọc 0,45 μm.

Dung dịch chuẩn: Hòa tan verbascosid chuẩn trong pha động để được dung dịch có nồng độ chính xác khoảng 10 µg/ml.

Điều kiện sắc ký:

Cột kích thước (25 cm × 4,6 mm), được nhồi pha tĩnh C (5 μm).

Detector quang phổ tử ngoại đặt ở bước sóng 334 nm.

Tốc độ dòng: 0,8 ml/min.

Thể tích tiêm: 20 μl.

Cách tiến hành:

Tiến hành sắc ký với dung dịch chuẩn. Tính số đĩa lý thuyết của cột. Số đĩa lý thuyết của cột tính trên pic verbascosid phải không dưới 5000.

Tiến hành sắc ký với dung dịch chuẩn và dung dịch thử.

Tính hàm lượng verbascosid trong dược liệu dựa vào diện tích pic thu được trên sắc ký đồ của dung dịch thử, dung dịch chuẩn, hàm lượng C29H36O15 trong verbascosid chuẩn. Dược liệu phải chứa không dưới 0,02% verbascosid (C29H36O15), tính theo dược liệu khô kiệt.

Bảo quản

Trong đồ đựng kín (tốt nhất là đựng trong thùng gỗ), để nơi khô mát, tránh mốc, nên dùng trong 30 ngày sau khi chế biến. Nếu để lâu hơn phải bảo quản trong tủ lạnh. Bảo quản không tốt dễ lên men chua, nếu dùng sẽ gây rối loạn tiêu hóa.

Tính vị, quy kinh

Vị ngọt, tính ôn. Vào các kinh tâm, can, thận.

Công năng, chủ trị

Tư âm bổ huyết, bổ thận tráng dương, sinh tủy. Chủ trị: Âm hư huyết suy, ngũ lao thất thường, can thận âm hư, thắt lưng đầu gối đau nhức, mồ hôi trộm, di tinh, âm hư sinh nội nhiệt, tiêu khát, huyết hư da vàng, tim hồi hộp, kinh nguyệt không đều, huyết nhạt hoặc huyết đen có cục, râu tóc bạc sớm.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng từ 9 g đến 12 g, có thể dùng lên đến 16 g đến 20 g tùy theo chứng bệnh, dạng thuốc sắc hoặc hoàn.

Thục địa dùng cùng với Mạch môn có tác dụng đại bổ tinh huyết.

Kiêng kỵ

Kỵ sắt. Tỳ vị hư hàn không dùng.

Tài liệu tham khảo

1. Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1565-1566, tải PDF tại đây.

THÔNG TIN TƯ VẤN