TẬP 1
- Lịch sử Dược điển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Hội đồng Dược điển Việt Nam VI
- Các cộng tác viên
- Các cơ quan và đơn vị tham gia xây dựng Dược điển Việt Nam VI
- Danh mục các chuyên luận mới so với DĐVN V
- Danh mục các chuyên luận DĐVN V có sửa đổi bổ sung
- Quy định chung
- Ký hiệu các chữ viết tắt
- Chuyên luận: Nguyên liệu hóa dược và thành phẩm hóa dược (Vần A đến H)
- Bảng tra cứu tên tiếng Anh, mã số định danh của các nguyên liệu hóa dược trong Dược điển Việt Nam VI (Vần A đến H)
- Mục lục tra cứu theo tên Việt Nam
TẰM VÔI
TẰM VÔI
Bombyx Botryticatus
Bạch cương tàm, Cương tàm
Toàn thân được làm khô của con Tằm nhà nuôi giai đoạn 4 đến 5 (Bombyx mori L.), họ Tằm tơ (Bombycidae) bị chết cứng thẳng do nhiễm vi nấm Bạch cương (Botrytis bassiana Bals.), họ Mucedinaceae, phân ngành Nấm bất toàn (Deuteromycotina). Vào mùa thu, khi sương xuống thường có loại nấm (Botrytis bassiana Bals.) bám vào lá dâu và con Tằm ăn lá dâu này mới sinh bệnh chết. Lấy các con tằm này đem rửa sạch, phơi hoặc sấy nhẹ (40 °C đến 50 °C) đến khô.
Mô tả
Tầm vôi hơi có hình trụ, nhăn nheo, dài 2 cm đến 5 cm, đường kính 0,5 cm đến 0,7 cm, mặt ngoài màu vàng tro, bao phủ bởi sợi nấm kí sinh và bào tử dạng phấn trắng.
Toàn thân chia đốt rõ rệt. Đầu tương đối tròn, mắt ở 2 bên, hai bên lườn bụng có 8 đôi chân giả, đuôi hơi chẻ đôi. Chất cứng giòn, dễ bẻ gãy, mặt gãy bằng phẳng, sáng bóng, lớp ngoài trắng như bột, lớp giữa có 4 vòng tuyến tơ màu đen sáng hay nâu sáng. Mùi hơi tanh, vị hơi mặn.
Ghi chú: Con Tằm có cả ngoài và trong đều trắng là tốt, nếu mình cong queo, ruột ướt đen không được dùng.
Bột
Màu nâu xám hoặc nâu xám thẫm. Soi kính hiển vi thấy: Sợi nấm hầu như không màu, cong queo hoặc hình dấu ngoặc, với các sợi xoắn ốc màu nâu hoặc nâu thẫm. Mặt ngoài, mô biểu bì có vân nhăn nheo, hình lưới và những điểm nhỏ nhọn mọc cao lên từ những đường sọc, với những lỗ lông cứng tròn, mép của các lỗ này màu vàng. Lông cứng màu vàng hoặc màu nâu vàng, mặt ngoài trơn bóng, thành hơi dày. Trong mô lá dâu tằm chưa tiêu hóa hết, phần lớn chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ.
Độ ẩm
Không quá 11,0% (Phụ lục 9.6, 1 g, 105 °C, 4 h).
Tạp chất
Không quá 0,5% (Phụ lục 12.11).
Tro toàn phần
Không quá 7,0% (Phụ lục 9.8).
Chế biến
Ngâm vào nước vo gạo một đêm, sáng hôm sau quấy nhẹ tay cho nhớt và tơ ra hết, vớt ra để ráo nước, đem phơi hoặc sấy nhỏ lửa cho thật khô để dùng. Nếu thuốc sắc để nguyên con. Tán bột để làm thuốc hoàn tán.
Bảo quản
Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô mát, tránh mốc mọt.
Dược liệu đã chế biến: Để trong đồ đựng kín, tránh ẩm (vì thuốc dễ hút ẩm gây mốc), nên dùng trong 20 ngày sau khi tán bột.
Tính vị, quy kinh
Vị mặn, cay, tính bình. Vào các kinh can, tâm, phế, vị.
Công năng, chủ trị
Khu phong, định kinh, hóa đờm, tán kết. Chủ trị: Kinh phong co giật, họng cổ đau, viêm kết hạch dưới hàm, ngứa ngoài da.
Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng từ 8 g đến 12 g, dạng thuốc sắc. Lượng dùng dạng hoàn tán tùy theo yêu cầu của bài thuốc.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1538-1539, tải PDF tại đây.
