QUẾ (Vỏ thân)
QUẾ (Vỏ thân)
Cinnamomi Cortex
Quế nhục
Vỏ thân đã chế biến và được làm khô của cây Quế (Cinnamomum cassia Presl.), họ Long não (Lauraceae). Thu hoạch vào tháng 4 đến tháng 5 và tháng 9 đến tháng 10 (tốt nhất vào cuối mùa hạ, đầu mùa thu), khi có nhiều mưa, độ ẩm cao để vỏ quế dễ tách khỏi lõi gỗ. Chọn những cây quế sống 5 năm trở lên (tốt nhất là cây sống từ 10 năm đến 15 năm) để bóc vỏ. Sau khi bóc, vỏ Quế được phơi trong râm cho khô hoặc cạo bỏ bớt lớp bần, phơi hoặc sấy nhẹ cho khô.
Mô tả
Mảnh vỏ thường được cuộn tròn thành ống, dài 5 cm đến 50 cm, ngang 1,5 cm đến 10 cm, dày 1 mm đến 8 mm. Mặt ngoài màu nâu đến nâu xám tro loang lỗ, là màu của vỏ đã hóa bần dày, gồ ghề hoặc trơn bóng (đối với Quế nhục chưa cạo bỏ lớp bần) hoặc màu nâu đỏ, nhẫn (với Quế nhục đã cạo bỏ lớp bần). Mặt trong màu nâu đỏ đến nâu sẫm, nhẫn hoặc hơi gồ ghề. Chất cứng và giòn, dễ bẻ gãy; mặt bẻ không nhẫn, có xơ, có hai lớp rõ: lớp ngoài màu vàng nâu, hơi thô ráp, lớp trong màu nâu đỏ, có xơ ngắn; có một vòng màu nâu hơi vàng giữa hai lớp. Mùi thơm, vị ngọt, cay tê nhẹ.
Ghi chú: Nếu khi nhấm Quế nhục thấy có vị ngọt, cay, sau một lúc thấy đắng cuối cùng là vị ngọt là loại Quế tốt hoặc cạo bỏ vỏ ngoài, mài với chút nước, nếu nước đục như sữa là loại tốt nhất, nếu nước có màu nâu đỏ như nước chè khô (hồng trà) là loại vừa, nếu nước có màu đỏ là loại ba.
Trong một cây Quế, khi bóc vỏ có thể phân ra các loại như sau:
Quế hạ bản: Là vỏ Quế bóc ở phần gốc cây từ mặt đất đến khoảng 1 m đến 1,5 m. Vỏ có lớp bần rất dày.
Quế trung châu (loại tốt nhất): Là vỏ Quế bóc ở phần thân cây cách mặt đất từ 1m đến 1,5 m trở lên đến phần cách mặt đất từ 3 m đến 4 m. Nếu vỏ cây ở phía mặt trời mọc, phần vỏ được mặt trời chiếu vào nên không sần sùi mà trơn bóng như vỏ khế, phía trong tích lũy nhiều tinh dầu có màu đỏ thẫm, loại này thường được gọi là “Lòng son vỏ khế”. Đây là loại Quế nhục tốt nhất.
Quế thượng biểu: Là vỏ cây Quế bóc ở phần thân cách mặt đất từ 3 m đến 4 m trở lên.
Vi phẫu
Ngoài cùng là bần gồm nhiều lớp tế bào xếp thành hàng, khá dày, có nhiều chỗ bị bong ra hoặc nứt rách. Mô mềm vỏ gồm các tế bào hình nhiều cạnh hoặc có dạng chữ nhật nằm ngang, thành mỏng chứa hạt tinh bột rất nhỏ. Rải rác trong mô mềm có tế bào tiết tinh dầu, tế bào tiết chất nhầy, tinh thể calci oxalat hình kim nhỏ. Sát lớp bần có tế bào mô cứng xếp riêng lẻ hay các đám mô cứng xếp thành từng cụm, tế bào hình nhiều cạnh hoặc thuôn dài với thành dày đều đặn. Một số tế bào mô cứng có thành dày theo hình chữ U. Sát libe là vòng mô cứng gần như liên tục với tế bào có thành dày, khoang hẹp. Lớp libe cấp 2 phát triển nhiều, gồm tế bào thành mỏng xen lẫn với một số tế bào biến thành sợi có thiết diện vuông hoặc hơi tròn, thành dày, nằm rải rác. Libe cấp 2 bị tia tủy gồm từ 1 đến 5 dãy tế bào chia cắt thành từng cụm, nhiều tia tủy phát triển rộng ra đến mô mềm vỏ, chứa tinh thể calci oxalat hình kim. Rải rác trong libe còn có tế bào tiết tỉnh dầu, tế bào tiết chất nhầy, tế bào chứa tinh bột như trong mô mềm vỏ.
Bột
Bột màu vàng nâu hoặc nâu sẫm, mùi thơm, vị cay, hơi ngọt. Nhiều sợi màu vàng nhạt, dài 200 µm đến 400 µm, đường kính 20 µm đến 50 µm, thành dày, khoang hẹp. Tế bào mô cứng gồm hai loại: một loại hình trái xoan hay chữ nhật, thành dày, khoang rộng hay hẹp, có ống trao đổi rõ; một loại tế bào có thành dày lên hình chữ U, khoang hẹp hơn, ống trao đổi rõ. Các tế bào mô cứng thường đứng riêng rẽ hoặc tụ thành từng đám, dài 60 µm đến 120 µm, rộng 30 µm đến 50 µm. Mảnh mô mềm, tế bào thành mỏng, trong chứa hạt tinh bột. Hạt tinh bột nhỏ, hình nhiều cạnh hoặc hơi tròn, đường kính 6 µm đến 15 µm, đứng riêng rẽ hoặc kép đôi, kép ba. Tinh thể calci oxalat hình kim thường bị gãy thành đoạn ngắn. Mảnh bần màu vàng nâu, gồm tế bào hình nhiều cạnh, thành khá dày.
Định tính
Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: n-Hexan – cloroform – ethyl acetat (4:1:1).
Dung dịch thử: Lấy 2,0 g bột dược liệu (qua rây số 250), thêm 10 ml ether (TT), lắc trong 3 min, lọc.
Dung dịch đối chiếu: Dung dịch aldehyd cinnamic chuẩn có nông độ 0,1% trong ether (TT).
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 µl mỗi dung dịch trên. Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được khoảng 12 cm, lấy bản mỏng ra, để khô trong không khí, phun lên bản mỏng dung dịch 2,4-dinitrophenyl hydrazin (TT). Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có 5 vết màu da cam, trong đó có một vết tương đương về vị trí và cùng màu với vết aldehyd cinnamic của dung dịch đối chiếu.
Độ ẩm
Không quá 14,0% (Phụ lục 12.13). Dùng 10 g bột thô dược liệu để thử.
Tro toàn phần
Không quá 5,0% (Phụ lục 9.8).
Tạp chất
Không quá 1,0% (Phụ lục 12.11).
Định lượng
Định lượng tinh dầu trong dược liệu (Phụ lục 12.7).
Cân chính xác khoảng 20 g dược liệu khô đã xay nhỏ (qua rây số 355) vào bình cầu dung tích 500 ml của bộ dụng cụ định lượng tinh dầu trong dược liệu. Thêm 200 ml dung dịch acid hydrocloric 0,1 N (TT). Cho 0,5 ml xylen (TT) vào ống hứng tinh dầu có khắc vạch, tiến hành cất trong 3 h với tốc độ 2,5 ml đến 3,5 ml/min.
Dược liệu phải chứa ít nhất 1,2% tinh dầu, tính theo dược liệu khô kiệt.
Chế biến
Trước khi dùng, gọt sạch vỏ bì thô (lớp bần), thái phiến mỏng để ngâm với nước thuốc sắc hoặc tán bột để làm hoàn tán.
Với Quế trung châu có thể làm khô như sau: Sau khi bóc, dùng ống nứa hoặc dụng cụ thích hợp lót vào trong, ngoài bọc một lớp lá chuối khô, rồi đến lá chuối tươi. Treo trong bóng râm nơi thoáng gió, cứ 1 – 2 ngày mở ra lấy vải hoặc giấy bản lau khô rồi tiếp tục gói vào treo nơi thoáng gió cho đến khi khô hẳn, làm như vậy để giữ và bảo tồn tinh dầu trong Quế.
Bảo quản
Để nơi khô, mát, trong đồ đựng kín. Tránh ẩm mốc.
Để tránh làm mất hương vị của Quế trung châu, lấy sáp ong miết vào hai đầu của thanh quế, bọc giấy polyethylen, cho vào thùng kín để nơi khô mát.
Tính vị, quy kinh
Vị ngọt, cay, tính đại nhiệt. Vào các kinh tâm, can, thận, phế, bàng quang.
Công năng, chủ trị
Bổ chân hỏa, trợ dương, thông kinh mạch, hóa khí, giáng nghịch. Chủ trị: Thông dương khí, thoát dương, tích nước gây phù nề do mệnh môn hỏa suy yếu, chân tay lạnh, tả lỵ, bế kinh, ăn không tiêu, chướng bụng.
Quế hạ bản: Loại này thường giáng xuống, chủ yếu điều trị bệnh đau nhức từ mông trở xuống 2 chân.
Quế trung châu và Quế thượng biểu: Có tính thăng đề đi lên, chủ yếu điều trị bệnh ở trung tiêu và thượng tiêu. Vào kinh thận, can, tâm, phế.
Quế trung châu loại “Lòng son vỏ khế” rất hiếm nên rất quí, điều trị bệnh hiệu quả cao, chủ yếu điều trị chứng mệnh môn hỏa suy hoặc dương suy nói chung. Loại quế này nhiều vị ngọt, ít cay nhưng có hơi đắng nhẹ.
Cách dùng, liều dùng
Ngày dùng từ 1 g đến 4 g, tối đa không quá 12 g, trường hợp đặc biệt tùy theo chỉ định của thầy thuốc. Loại Quế trung châu thường mài với nước thuốc sắc để uống (xung phục). Các loại còn lại, thái lát mỏng cho vào thuốc đã sắc khi còn đang nóng rồi uống. Tán bột để làm thuốc hoàn tán.
Kiêng kỵ
Không phải hư hàn không được dùng.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1502-1504, tải PDF tại đây
