QUẾ (Cành) - họ Long não (Lauraceae) - Dược điển Việt Nam 6


QUẾ (Cành)

26/05/2026
QUẾ (Cành)

QUẾ (Cành)

Cinnamomi Ramulus

Quế chi

Cành được làm khô của cây Quế (Cinnamomum cassia Presl.), họ Long não (Lauraceae). Thu hái vào mùa hạ, bỏ lá lấy cành, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Mô tả

Cành hình trụ tròn, thường chặt khúc dài 2 cm đến 4 cm, đường kính 0,3 cm đến 1 cm. Mặt ngoài màu nâu đến màu nâu đỏ, có nhiều vết nhăn dọc nhỏ và các vết sẹo cành, vết cuống lá, sẹo của chồi và nhiều lỗ vỏ. Chất cứng giòn, dễ gãy. Mặt cắt ngang thấy: Lớp vỏ màu nâu, bên trong có gỗ màu vàng nhạt tới nâu vàng, ruột gần tròn. Mùi thơm nhẹ, vị hơi cay.

Vi phẫu

Mặt cắt hình tròn từ ngoài vào trong có: Biểu bì có một hàng tế bào, mang lông che chở đơn bào. Với cành già ngoài cùng là lớp bần. Mô mềm vỏ có từ 3 đến 5 lớp tế bào, một số tế bào có thành dày lên về một phía; các tế bào chứa tinh dầu và các tế bào mô cứng nằm rải rác trong mô mềm vỏ. Nhóm các tế bào mô cứng sắp xếp thành vòng không liên tục, đi kèm với các bó sợi. Với cành già hơn tể bào cứng tạo thành vòng liên tục. Libe tạo thành bó hay vòng. Tầng phát sinh libe-gỗ. Các mạch gỗ xếp thành hàng hướng tâm. Trong cùng là mô mềm ruột. Các tỉnh thể calci oxalat hình kim tập trung ở tia ruột và mô mềm ruột.

Định tính

Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).

Bản mỏng: Silica gel G.

Dung môi khai triển: n-Hexan – cloroform – ethyl acetat (4:1:1).

Dung dịch thử. Lấy 2,0 g bột dược liệu (qua rây số 250), thêm 10 ml ether (TT), lắc trong 3 min, lọc.

Dung dịch đối chiếu: Dung dịch aldehyd cinnamic 0,1% trong ether (TT), hoặc lấy 2,0 g bột cành Quế (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 µl mỗi dung dịch trên. Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được khoảng 12 cm, lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng, phun lên bản mỏng dung dịch 2,4-dinitrophenyl hydrazin (TT). Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có 5 vết màu da cam, trong đó có một vết tương đương về vị trí và cùng màu với vết aldehyd cinnamic trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu. Nếu dùng cành Quế để chuẩn bị dung dịch đối chiếu thì trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm

Không quá 12,0% (Phụ lục 12.13).

Tro toàn phần

Không quá 3,0% (Phụ lục 9.8).

Tạp chất

Không quá 1,0% (Phụ lục 12.11).

Chất chiết được trong dược liệu

Không ít hơn 4,0%, tính theo dược liệu khô kiệt.

Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10), dùng ethanol 96% (TT) làm dung môi.

Chế biến

Tùy vào kích thước, độ già hay non của cành Quế để phân loại Quế chi như sau.

Quế chi: Lấy cành trung bình và cành nhỏ của cây quế vào cuối mùa hạ (hoặc có thể bóc lấy vỏ của các cành lớn), phơi khô (phơi dưới sáng mặt trời vừa phải để không mất quá nhiều tinh dầu trong vỏ quế). Khi dùng đem rửa sạch, cắt khúc dài 2 cm đến 4 cm, phơi khô.

Quế chi tiêm: Lấy các cành nhỏ và non của cây quế vào mùa hạ, rửa sạch, phơi khô. Khi dùng đem thái khúc dài 3 cm đến 4 cm hoặc thái phiến dày, phơi khô.

Bảo quản

Để nơi khô, mát, trong đồ đựng kín.

Tính vị, quy kinh

Quế chi: Vị cay, hơi ngọt, tính ôn. Vào các kinh tâm, phế.

Quế chi tiêm: Vị cay nhẹ, tính ôn. Vào kinh phế

Công năng, chủ trị

Quế chi: Phá hàn, giải cơ, thông kinh hoạt lạc, khu hàn, giải biểu. Chủ trị: Thông dương khí điều trị cảm mạo, phong hàn không có mồ hôi, tê thấp đau nhức xương khớp, bế kinh, đau bụng do hàn.

Quế chi tiêm: Giãn cơ, trị các chứng đau nhức mỏi ở tứ chi, thường trong bài thuốc kết hợp Quế chỉ với Tang chỉ.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng từ 6 g đến 10 g, dạng thuốc sắc. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Kiêng kỵ

Quế chi: Sốt cao có nhiều mồ hôi, bệnh thuộc nhiệt chứng không dùng.

Quế chi tiêm: Đau nhức mỏi sốt cao không dùng.

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1501-1502, tải PDF tại đây 

THÔNG TIN TƯ VẤN