Phụ lục 9:2 - XÁC ĐỊNH ĐỘ TRONG CỦA DUNG DỊCH - Dược điển Việt Nam 6


Phụ lục 9:2 – XÁC ĐỊNH ĐỘ TRONG CỦA DUNG DỊCH

08/06/2026
XÁC ĐỊNH ĐỘ TRONG CỦA DUNG DỊCH
Hiện tượng đục là hiệu ứng khi ánh sáng bị hấp thụ hay tán xạ bởi những tiểu phân siêu nhỏ có mặt trong dung dịch hay do mật độ quang không đồng nhất. Dung dịch trong khi không chứa các tiểu phân hay có sự đồng nhất về mật độ quang học.
Một chất lỏng được coi là trong khi có độ trong tương đương độ trong của nước cất hay dung môi sử dụng, hoặc độ đục của nó không đục hơn hỗn dịch đối chiếu I (xem Bảng 9.2.1) khi quan sát trong điều kiện mô tả trong phụ lục này.
Trong các chuyên luận riêng, yêu cầu về độ trong được thể hiện bằng cách so sánh với các hỗn dịch đối chiếu (xem Bảng 9.2.1) theo phương pháp so độ đục bằng mắt thường. Tuy nhiên, có thể dùng các phương pháp dụng cụ để xác định mức độ đạt yêu cầu của chuyên luận với các thiết bị được đánh giá phù hợp và được hiệu chuẩn bằng các hỗn dịch đối chiếu từ 1 đến IV và nước cất hoặc dung môi (sử dụng giá trị độ đục trong Bảng 9.2.2).

PHƯƠNG PHÁP SO ĐỘ ĐỤC BẰNG MẮT THƯỜNG

Việc so sánh được tiến hành trong các ống nghiệm giống nhau, bằng thủy tinh trung tính, trong suốt, không màu, đáy bằng, có đường kính trong từ 15 mm đến 25 mm, sử dụng hỗn dịch đối chiếu mới pha như mô tả. Chiều cao của lớp dung dịch thử và của hỗn dịch đối chiếu phải giống nhau (khoảng 40 mm). Hỗn dịch đối chiếu sau khi pha 5 min được so sánh với dung dịch cần thử bằng cách nhìn từ trên xuống chất lỏng trong các ống nghiệm trên nền đen dưới ánh sáng ban ngày khuếch tán.
Phương pháp phù hợp khi nguồn ánh sáng khuếch tán đảm bảo phân biệt dễ dàng hỗn dịch đối chiếu I với nước cất và với hỗn dịch đối chiếu II.

PHƯƠNG PHÁP ĐO ĐỘ ĐỤC BẰNG THIẾT BỊ

Phương pháp do độ dục bằng thiết bị (phương pháp dụng cụ) có tính chất phân biệt tốt hơn phương pháp so bằng mắt thường do không phụ thuộc vào thị lực của người quan sát. Kết quả đo biểu thị bằng số thuận lợi cho việc kiểm soát quy trình và theo dõi chất lượng, đặc biệt là theo dõi độ ổn định. Ví dụ, từ các dữ liệu về độ ổn định trước đó có thể ngoại suy để xác định liệu một lô chế phẩm có không đạt giới hạn cho phép khi thuốc còn trong hạn dùng không.
Phương pháp đo độ đục truyền qua và độ đục tán xạ

Khi quan sát một hỗn dịch ở góc phù hợp so với hướng của ánh sáng tới, thấy hiện tượng đục do các tiểu phân treo lơ lửng làm tán xạ ánh sáng (hiệu ứng Tyndall). Một phần chùm sáng chiếu vào chất lỏng đục sẽ được truyền qua, một phần được hấp thụ, phần còn lại bị các tiểu phân nằm lơ lửng làm tán xạ. Độ tán xạ ánh sáng được xác định gián tiếp bằng đo phần ánh sáng truyền qua (độ đục truyền qua) hoặc xác định trực tiếp bằng đo phần ánh sáng tán xạ (độ đục tán xạ). Độ đục truyền qua và độ đục tán xạ cho giá trị đáng tin cậy hơn ở vùng độ đục thấp, tại đây có quan hệ tuyến tính giữa độ đục và tín hiệu detector. Khi độ đục tăng lên, không phải tất cả tiểu phân đều tiếp xúc với ánh sáng tới và bức xạ tán xạ hoặc truyền qua của các tiểu phân khác bị cản trở trên đường tới detector.

Để phân tích định lượng cần xây dựng đường chuẩn. Đánh giá độ tuyến tính cần dựa trên tối thiểu 4 mức nồng độ. Các hỗn dịch đối chiếu cần có độ đục đủ ổn định và được chuẩn bị trong điều kiện xác định rõ.
Phương pháp đo tỷ đối
Các chất lỏng có màu cần phải áp dụng đo bằng thiết bị ở chế độ đo tỷ đối do màu gây ảnh hưởng âm, làm suy giảm cả ánh sáng tới và ánh sáng tán xạ, làm giảm giá trị độ đục. Hiệu ứng này rất lớn ngay cả với mẫu có màu nhạt, nên không thể dùng được thiết bị đo độ đục tán xạ thông thường.

Khi đo độ đục truyền qua hay độ đục tán xạ ở chế độ đo tỷ đối, tỷ số giữa độ đục truyền qua và độ đục tán xạ ở góc 90° được xác định. Quá trình này giúp bù trừ phần ánh sáng bị giảm do ảnh hưởng màu của mẫu. Thiết bị với chế độ đo tỷ đối sử dụng nguồn sáng là đèn wolfram tại bước sóng 550 nm, nhiệt độ dây tóc 2700K hoặc nguồn sáng thích hợp khác. Đèn hai cực silicon và bộ nhân quang thường được dùng làm detector ghi nhận thay đổi mức truyền qua hay tán xạ của ánh sáng do mẫu gây ra. Detector sơ cấp đo ánh sáng tán xạ tại góc 90° ± 2,5°. Các detector khác đo phần ánh sáng tán xạ ngược và xuôi (ánh sáng phản xạ) cũng như phần ánh sáng truyền qua. Kết quả thu được bằng tỷ số giữa cường độ ánh sáng tán xạ ở góc 90° và tổng cường độ của ánh sáng tán xạ xuôi và ánh sáng truyền qua.

Các thiết bị đo được hiệu chuẩn bằng các mẫu chuẩn có độ đục đã biết và có thể đo độ đục tự động.
Kết quả đo được hiển thị hoặc cung cấp trực tiếp từ thiết bị và so sánh với yêu cầu trong chuyên luận riêng.
Ảnh hưởng của màu sắc mẫu có thể được loại bỏ bằng cách sử dụng thiết bị với nguồn sáng là đèn diod phát xạ hồng ngoại (IR LED) có cực đại phát xạ tại 860 nm, độ rộng dải 60 nm.
Yêu cầu của thiết bị
Thiết bị đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật dưới đây và được kiểm tra bằng các hỗn dịch đối chiếu phù hợp có thể được sử dụng thay phương pháp đo độ đục bằng mắt thường để đánh giá mức độ phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn.

Đơn vị đo: NTU (đơn vị độ đục tán xạ). NTU dựa trên độ đục của một chuẩn sơ cấp formazin. FTU (đơn vị độ đục truyền qua formazin) hay FNU (đơn vị độ đục tán xạ formazin) cũng được sử dụng, và tương đương với NTU ở vùng độ đục thấp (không quá 40 NTU). Các loại đơn vị này được sử dụng trong cả 3 phương pháp dụng cụ (đo độ đục tán xạ, đo độ đục truyền qua và đo tỷ đối).

Khoảng đo: 0,01 – 1100 NTU.
Độ phân giải: 0,01 NTU trong khoảng từ 0 – 9,99 NTU; 0,1 NTU trong khoảng từ 10 – 99,9 NTU; và 1 NTU trong khoảng > 100 NTU.
Độ chính xác: ± (10% giá trị đọc + 0,01 NTU) trong khoảng từ 0 – 20 NTU; ± 7,5% trong khoảng từ 20 -1100 NTU.
Độ lặp lại: ± 0,05 NTU trong khoảng từ 0 – 20 NTU; ± 2% trong khoảng từ 20 – 1100 NTU.
Có thể sử dụng thiết bị có khoảng đo hoặc độ phân giải, độ chính xác và độ lặp lại khác so với yêu cầu ở trên nhưng cần thẩm định đầy đủ và có tính năng phù hợp với mục đích sử dụng.
Kiểm tra hiệu năng của thiết bị
Hiệu chuẩn máy: Thực hiện với tối thiểu bốn hỗn dịch formazin đối chiếu bao phủ toàn bộ khoảng cần đo. Có thể sử dụng hỗn dịch đối chiếu dưới đây hoặc các chuẩn khác đã được chuẩn hóa theo hỗn dịch đối chiếu sơ cấp.
Ánh sáng lạc: < 0,15 NTU trong khoảng từ 0 – 10 NTU; < 0,5 NTU trong khoảng từ 10 – 1100 NTU.
Ánh sáng lạc là ánh sáng tới detector mà nguồn gốc không phải bởi sự tán xạ từ mẫu.
Ánh sáng lạc luôn gây sai số dương và ảnh hưởng rõ rệt tới kết quả đo ở khoảng độ đục thấp. Nguồn ánh sáng lạc có thể do cốc đo bị xước, lỗi; do phản xạ bên trong hệ quang; do tạp nhiễm vào hệ quang học hoặc vào buồng chứa mẫu như bụi hay nhiễu điện. Thiết kế của thiết bị cũng ảnh hưởng đến ánh sáng lạc.
Ảnh hưởng của ánh sáng lạc trở thành không đáng kể ở phương pháp đo tỷ đối.
Đo độ đục của mẫu chuẩn và mẫu thử trong cùng điều kiện nhiệt độ, tốt nhất từ 20 °C đến 25 °C.

CÁC HỖN DỊCH ĐỐI CHIẾU

Formazin có một số đặc tính mong muốn để làm chất chuẩn cho phép đo độ đục. Formazin được tạo thành từ phản ứng giữa hexamethylentetramin và hydrazin sulfat, có thể được pha chế ổn định, lặp lại từ các nguyên liệu đạt yêu cầu có hàm lượng xác định.
Formazin có các tính chất vật lý lý tưởng của một chất chuẩn cho phép đo tán xạ ánh sáng. Formazin polymer gồm các mạch có chiều dài khác nhau, gập theo các cấu hình ngẫu nhiên. Tính chất này tạo ra sự đa dạng về hình dạng và kích thước các tiểu phân, cho phép phân tích nhiều mức kích thước và hình dạng tiểu phân khác nhau có mặt trong các mẫu thực.
Sản phẩm hỗn dịch formazin ổn định, sẵn có trên thị trường có thể sử dụng để pha các chuẩn đục loãng, bền được sử dụng sau khi so sánh với các hỗn dịch đối chiếu được chuẩn bị như mô tả dưới đây.
Tất cả các bước chuẩn bị các hỗn dịch đối chiếu được thực hiện ở 25 °C ±3°C.
Dung dịch hydrazin sulfat: Hòa tan 1,0 g hydrazin sulfat (TT) trong nước, pha loãng với nước thành 100,0 ml và đề yên trong thời gian 4 h đến 6 h.
Hỗn dịch đục gốc (hỗn dịch formazin): Trong một bình thủy tinh nút mài dung tích 100 ml, hòa tan 2,5 g hexamethylentetramin (TT) trong 25,0 ml nước. Thêm 25,0 ml dung dịch hydrazin sulfat. Lắc kỹ và đề yên trong 24 h. Nếu được bảo quản trong lọ thủy tinh tốt (không có khiếm khuyết ở bề mặt) thì hỗn dịch đục gốc bền vững trong vòng 2 tháng. Hỗn dịch này phải không được bám dính vào thủy tinh và phải được lắc kỹ trước khi dùng.
Chuẩn đục: Pha loãng 15,0 ml hỗn dịch đục gốc thành 1000,0 ml với nước. Chuẩn đục được chuẩn bị ngay trước khi dùng và có thể bảo quản tối đa trong vòng 24 h.
Hỗn dịch đối chiếu: Các hỗn dịch đối chiếu từ 1 tới IV được chuẩn bị như chỉ dẫn trong Bảng 9.2.1. Mỗi hỗn dịch phải được trộn kỹ và lắc trước khi sử dụng.
Bảng 9.2.1 – Các hỗn dịch đối chiếu
I II III IV
Chuẩn đục (ml) 5,0 10,0 30,0 50,0
Nước (ml) 95,0 90,0 70,0 50,0
Khi đo độ đục của các hỗn dịch đối chiếu từ I đến IV bằng chế độ đo tỷ đối, kết quả đo thể hiện mối tương quan tuyến tính giữa nồng độ hỗn dịch và giá trị NTU đo được.
Bảng 9.2.2 – Giá trị độ đục (NTU)
Hỗn dịch Giá trị độ đục (NTU)
Hỗn dịch đối chiếu I 3
Hỗn dịch đối chiếu II 6
Hỗn dịch đối chiếu III 18
Hỗn dịch đối chiếu IV 30
Chuẩn đục 60
Hỗn dịch đục gốc 4000

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang PL250-252, tải PDF tại đây

THÔNG TIN TƯ VẤN