TẬP 1
- Lịch sử Dược điển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Hội đồng Dược điển Việt Nam VI
- Các cộng tác viên
- Các cơ quan và đơn vị tham gia xây dựng Dược điển Việt Nam VI
- Danh mục các chuyên luận mới so với DĐVN V
- Danh mục các chuyên luận DĐVN V có sửa đổi bổ sung
- Quy định chung
- Ký hiệu các chữ viết tắt
- Chuyên luận: Nguyên liệu hóa dược và thành phẩm hóa dược (Vần A đến H)
- Bảng tra cứu tên tiếng Anh, mã số định danh của các nguyên liệu hóa dược trong Dược điển Việt Nam VI (Vần A đến H)
- Mục lục tra cứu theo tên Việt Nam
NGOI (Lá)
NGOI (Lá)
Solani erianthi Folium
Cà ngoi
Lá được làm khô của cây Ngoi (Solanum erianthum D. Don), họ Cà (Solanaceae). Thu hái lá quanh năm, phơi hay sấy khô ở nhiệt độ 50 °C đến 60 °C, có thể dùng tươi.
Mô tả
Lá khô thường bị quăn lại hay gấp nếp, màu xanh xám, có lông mịn nhất là ở phần cuống và lá non. Phiến lá sau khi làm giãn nở có hình thuôn nhọn hay elip, dài 10 cm đến 29 cm, rộng từ 4 cm đến 12 cm. Mùi hắc, khai; vị đắng, cay.
Vi phẫu
Vi phẫu lá có thiết diện đối xứng qua trục giữa. Cấu tạo gồm có các phần:
Gân lá: Mặt trên hơi lồi, mặt dưới rất lồi. Biểu bì gồm các tế bào hình chữ nhật xếp thành một lớp. Tế bào biểu bì mang lông che chở đa bào hình sao (5 đến 11 tế bào) và lông tiết đầu đa bào (4 đến 6 tế bào), chân đa bào (2 tế bào). Mô dày gồm 5 đến 7 dãy tế bào thành dày. Bó libe-gỗ hình cung xếp giữa gân lá, gồm cung libe bao quanh cung gỗ. Mô mềm gồm các tế bào hình tròn hay nhiều cạnh, thành mỏng, nằm giữa mô dày và bó libe, tế bào chứa tinh thể calci oxalat dạng cát nằm rải rác.
Phiến lá: Biểu bì trên và biểu bì dưới gồm một lớp tế bào mang lông che chở đa bào và lông tiết đa bào. Nằm sát lớp biểu bì trên là mô giậu, cấu tạo bởi các tế bào hình chữ nhật xếp đứng cạnh nhau. Dưới mô giậu là mô mềm cấu tạo bởi các tế bào không đều, thành mỏng.
Bột
Bột có màu xanh xám, rất xốp. Quan sát dưới kính hiển vi thấy: Mảnh biểu bì mang lỗ khí; mảnh mạch xoắn; tinh thể calci oxalat hình cầu gai; lông che chở đa bào; lông tiết chân 2 tế bào, đầu đa bào.
Định tính
Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: Cloroform – methanol (10: 1).
Dung dịch thử: Lấy 5 g bột dược liệu, thêm 70 ml dung dịch acid acetic 5%, ngâm qua đêm. Lọc dịch chiết qua giấy lọc. Kiềm hoá dịch lọc bằng amoniac (TT) đến pH 9,5 – 10, chiết 3 lần với cloroform (TT), mỗi lần 30 ml. Gộp dịch chiết cloroform, thu hồi dung môi đến cắn, hoà tan cắn trong 1 ml methanol (TT) được dung dịch chấm sắc ký.
Dung dịch đối chiếu: Lấy 5 g bột lá Ngoi (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, lấy bản mỏng ra để khô trong không khí, phun thuốc thử Dragendorff (TT). Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có 7 vết chính tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.
Độ ẩm
Không được quá 13,0% (Phụ lục 9.6, 1 g, 100 °C, 4 h).
Tạp chất
Không được quá 1,0% (Phụ lục 12.11).
Tỷ lệ vụn nát
Qua rây có kích thước mắt rây 4 mm: Không được quá 5% (Phụ lục 12.12).
Tro toàn phần
Không được quá 14,0% (Phụ lục 9.8).
Định lượng
Phương pháp quang phổ hấp thụ tử ngoại và khả kiến (Phụ lục 4.1).
Dung dịch chuẩn gốc: Cân chính xác khoảng 0,05 g solasodin chuẩn, cho vào bình định mức 100 ml, thêm một ít methanol (TT), lắc cho tan hết solasodin, thêm tiếp methanol (TT) đến vạch và lắc đều.
Dung dịch thử gốc: Cân chính xác khoảng 1,0 g bột dược liệu (qua rây 1,25 mm), đun hồi lưu trong cách thủy 3 h với 50 ml dung dịch acid acetic 5% trong methanol. Để nguội, lọc, rửa bã dược liệu 2 lần, mỗi lần bằng 30 ml dung dịch acid acetic 5% trong methanol. Gộp dịch lọc và dịch rửa, thu hồi dung môi và cô trong chân không ở 50 °C tới khô. Dùng methanol (TT) để hòa tan và chuyển toàn bộ cắn vào bình định mức 25 ml, thêm methanol (TT) đến vạch. Đậy nút và lắc đều. Lọc.
Cách tiến hành:
Lần lượt cho vào 3 bình gạn dung tích 50 ml các dung dịch sau:
| Dung dịch sử dụng | Bình 1
Dung dịch chuẩn (ml) |
Bình 2
Dung dịch thử (ml) |
Bình 3
Mẫu trắng (ml) |
| Dung dịch đệm phosphat 0.1 MPH 8.0 (TT) | 5 | 5 | 5 |
| Dung dịch xanh (Hoà tan 0,2 g xanh bromthymol (TT) trong bromothymol 0,2% ethanol 20 % (TT), thêm cùng dung môi để vừa đủ 100 ml). | 0,5 | 0,5 | 0,5 |
| Dung dịch chuẩn gốc | 0,5 | 0 | 0 |
| Dung dịch thử gốc | 0 | 0,5 | 0 |
| Methanol (TT) | 0 | 0 | 0,5 |
| Cloroform (TT) | 10 | 10 | 10 |
Lắc kỹ 3 bình trên trong 15 min, sau đó để yên khoảng 30 min cho phân lớp. Gạn lấy lớp cloroform vào 3 bình gạn khác. Lắc lớp cloroform với 10 ml dung dịch natri hydroxyd 0,05 M (TT). Để yên 30 min cho phân lớp. Gạn lấy dung dịch kiềm màu xanh.
Đo độ hấp thụ ở bước sóng 616 nm của các dung dịch kiềm thu được. Tính hàm lượng glycoalcaloid trong mẫu thử theo solasodin dựa vào độ hấp thụ của dung dịch thử, dung dịch chuẩn và hàm lượng C27H43NO2 trong solasodin chuẩn.
Hàm lượng glycoalcaloid toàn phần trong dược liệu không được ít hơn 0,45% tính theo solasodin (C27H43NO2), tính theo dược liệu khô kiệt.
Bảo quản
Để nơi khô, thoáng mát.
Tính vị, quy kinh
Vị đắng, cay, tính ấm, có độc.
Công năng, chủ trị
Thanh nhiệt tiêu thũng, sát trùng, chỉ huyết, hành khí chỉ thống, sinh cơ thu liễm. Chủ trị: Đau dạ dày, phong thấp tê bại, mụn nhọt ung độc, đòn ngã tổn thương, gẫy xương, bệnh bạch cầu hạt mạn tính.
Dùng ngoài trị viêm da có mủ, lòi dom, hắc lào, lao hạch.
Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 10 g đến 15 g, dạng thuốc sắc.
Dùng ngoài: Lượng thích hợp, rửa sạch, giã giập, sao nóng, đắp vào chỗ đau.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1467-1468, tải PDF tại đây
