TẬP 1
- Lịch sử Dược điển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Hội đồng Dược điển Việt Nam VI
- Các cộng tác viên
- Các cơ quan và đơn vị tham gia xây dựng Dược điển Việt Nam VI
- Danh mục các chuyên luận mới so với DĐVN V
- Danh mục các chuyên luận DĐVN V có sửa đổi bổ sung
- Quy định chung
- Ký hiệu các chữ viết tắt
- Chuyên luận: Nguyên liệu hóa dược và thành phẩm hóa dược (Vần A đến H)
- Bảng tra cứu tên tiếng Anh, mã số định danh của các nguyên liệu hóa dược trong Dược điển Việt Nam VI (Vần A đến H)
- Mục lục tra cứu theo tên Việt Nam
NGÔ THÙ DU (Quả)
NGÔ THÙ DU (Quả)
Evodiae rutaecarpae Fructus
Quả gần chín được làm khô của cây Ngô thù du [Evodia rutaecarpa (Juss.) Benth. hoặc Evodia rutaecarpa (Juss.) Benth. var. officinalis (Dode) Huang hoặc Evodia rutaecarpa (Juss.) Benth. var. bodinieri (Dode) Huang], họ Cam (Rutaceae). Thu hoạch từ tháng 8 đến tháng 11, khi quả chưa nứt, cắt cành có quả, phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ thấp (40 °C đến 50 °C), loại bỏ cành, cuộng, lá, cuống quả và tạp chất khác.
Mô tả
Quả hình cầu hoặc hình cầu dẹt, đường kính 0,2 cm đến 0,5 cm, mặt ngoài màu lục vàng thẫm đến màu nâu, thô, xù xì. Có nhiều điểm chấm dầu nhô lên hoặc trũng xuống. Đỉnh quả có kẽ nứt hình sao 5 cánh, chia quả thành 5 mảnh. Gốc quả còn sót lại cuống phủ lông tơ vàng. Chất cứng, giòn. Mặt cắt ngang quả thấy rõ 5 ô, mỗi ô chứa 1 hạt đến 2 hạt màu vàng nhạt. Mùi thơm ngát, vị cay, đắng. Ghi chú: Quả nhỏ, có hình dáng giống nụ Đinh hương, màu xám, rắn chắc, có mùi thơm hắc là loại tốt.
Bột
Bột màu nâu. Quan sát dưới kính hiển vi thấy: Lông che chở đa bào gồm 2 đến 6 tế bào, dài 140 µm đến 350 µm, vách ngoài có mấu bướu rõ rệt. Một số khoang tế bào chứa các chất màu vàng nâu đến đỏ nâu. Lông tiết có đầu hình bầu dục, gồm 7 đến 14 tế bào thường chứa chất tiết màu vàng và chân có 2 đến 5 tế bào. Cụm tinh thể calci oxalat hình cầu gai hoặc hình lăng trụ, đường kính 10 µm đến 25 µm. Tế bào mô cứng hình gần tròn hoặc hình chữ nhật, thành dày và có ống trao đổi rõ, đường kính 35 µm đến 70 µm, khoang rộng. Mảnh mô mềm có chứa tinh thể calci oxalat hình cầu gai, hình lăng trụ. Đôi khi còn thấy các mảnh vỡ màu vàng của các khoang dầu.
Định tính
A. Lấy 0,5 g bột dược liệu, cho vào ống nghiệm, thêm 10 ml dung dịch acid hydrocloric 1% (TT), lắc mạnh vài phút, lọc. Lấy dịch lọc làm các phản ứng sau:
Lấy 2 ml dịch lọc, thêm 1 giọt thuốc thử Mayer (TT), lắc đều, sẽ có tủa màu trắng ngà.
Lấy 1 ml dịch lọc, thêm từ từ 2 ml dung dịch p-dimethyl aminobenzaldehyd (TT), đun nóng trên cách thủy, giữa hai lớp dung dịch sẽ hình thành vòng nâu đỏ.
B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: Ether dầu hỏa (60 °C đến 90°C) -ethyl acetat – triethylamin (7: 3:0,1). Dung dịch thử: Lấy 0,4 g bột dược liệu, thêm 20 ml ethanol 96% (TT), siêu âm 30 min ở nhiệt độ phòng, lọc, dịch lọc được dùng làm dung dịch chấm sắc ký.
Dung dịch chất đối chiếu: Hòa tan riêng biệt rutaecarpin chuẩn và evodiamin chuẩn trong ethanol 96% (TT) đề được dung dịch có nồng độ chất chuẩn lần lượt là 0,2 mg/ml và 1,5 mg/ml.
Dung dịch dược liệu đối chiếu: Nếu không có các chất chuẩn trên, lấy 0,4 g bột Ngô thù du (mẫu chuẩn) tiến hành chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, lấy bản mỏng ra, để khô ngoài không khí. Quan sát bản mỏng dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với vết rutaecarpin và evodiamin trên sắc ký đồ của dung dịch chất đối chiếu hoặc có các vết tương đương về vị trívà cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.
Độ ẩm
Không được quá 15,0% (Phụ lục 9.6, 2 g, 105 °C, 5 h).
Tro toàn phần
Không được quá 10,0% (Phụ lục 9.8).
Tạp chất
Cuống quả đã tách rời và tạp chất khác: Không quá 7,0% (Phụ lục 12.11).
Chất chiết được trong dược liệu
Không được dưới 30,0%, tính theo dược liệu khô kiệt.
Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10).
Dùng ethanol 50% (TT) làm dung môi.
Định lượng
Tiến hành theo phương pháp định lượng tinh dầu (Phụ lục 12.7). Dùng 100 g dược liệu.
Hàm lượng tỉnh dầu không ít hơn 0,25%, tính theo dược liệu khô kiệt.
Chế biến
Ngô thù du thủy chế: Lấy nước đun sôi để ấm đến 60 °C đến 70 °C đổ vào Ngô thù du, quấy đều đến nguội, thay nước, làm lại như trên 2 – 3 lần, sau đó phơi hoặc sấy khô, giã giập dùng làm thuốc, dùng sống.
Ngô thù du chế Cam thảo: Lấy Cam thảo giã nát, sắc lấy nước bỏ bã, cho Ngô thù du vào nước sắc Cam thảo trộn thật đều, ủ cho đến khi hút hết nước Cam thảo, lấy ra sao cho gần khô rồi phơi khô. Dùng 6 kg Cam thảo cho 100 kg Ngô thù du. Chế Cam thảo để giảm bớt vị đắng và tính nồng của Ngô thù du.
Ngô thù du sao muối: Lấy Ngô thù du đã thủy chế, tẩm nước muối ăn nồng độ 20% cho vừa thấm, trộn đều, ủ 1 h, sao lửa nhẹ đến có mùi thơm là đạt. Chế muối để thuốc vào can thận với nồng độ cao. Khi dùng giã giập.
Bảo quản
Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô mát.
Dược liệu đã chế biến: Để trong đồ đựng kín, để nơi khô ráo. Nên dùng trong 30 ngày sau khi chế biến.
Tính vị, quy kinh
Vị cay, đắng, tính ôn, tiểu độc. Vào phần huyết của các kinh tỳ, vị, can, thận.
Công năng, chủ trị
Tán hàn, giáng khí, khai uất thu liễm, khu phong, giảm đau sát trùng. Chủ trị: Đau đầu, đau bụng ăn không tiêu, nôn ọe, chân tay lạnh, hàn thấp cước khí, hành kinh đau bụng, ợ hãng nuốt chua, ngũ canh tả, tiêu chảy, viêm miệng, loét lưỡi.
Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 2 g đến 5 g, dạng thuốc sắc hoặc làm viên hoàn tùy theo bài thuốc.
Kiêng kỵ
Không có hàn thấp không được dùng.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1469-1470, tải PDF tại đây
