NGHỆ (Thân rễ) - họ Gừng (Zingiberaceae) - Dược điển Việt Nam 6


NGHỆ (Thân rễ)

25/05/2026
NGHỆ (Thân rễ)

NGHỆ (Thân rễ)

Curcumae longae Rhizoma

Khương hoàng

Thân rễ đã phơi khô hay đồ chín rồi được làm khô của cây Nghệ vàng (Curcuma longa L.), họ Gừng (Zingiberaceae). Thu hoạch vào mùa đông ở cây khoảng 1 năm tuổi, khi lá cây bắt đầu vàng, đào lấy thân rễ, bỏ rễ con và tạp chất, rửa sạch, phơi hay sấy khô hoặc đồ trong 6 h đến 12 h rồi đem phơi hoặc sấy khô.

Mô tả

Thân rễ (còn gọi là củ) hình trụ, thẳng hoặc hơi cong, đôi khi phân nhánh ngắn dạng chữ Y, dài 2 cm đến 5 cm, đường kính 1 cm đến 3 cm. Mặt ngoài màu xám nâu, nhăn nheo, có những đường vòng ngang sít nhau, đôi khi còn vết tích của các nhánh và rễ. Mặt cắt ngang thấy rõ 2 vùng vỏ và trụ giữa; trụ giữa chiếm gần 2/3 đường kính. Chất chắc và nặng. Mặt bẻ bóng, có màu vàng cam. Mùi thơm hắc, vị hơi đắng, hơi cay.

Ghi chú: Củ tươi loại to chắc, ngoài màu đỏ hồng, trong có màu vàng, ánh có nhiều tinh dầu là loại tốt.

Vi phẫu

Tiêu bản mới cắt, chưa nhuộm tẩy thấy rõ lớp bần dày, gồm nhiều hàng tế bào dẹt, trong đó rải rác có những tế bào màu vàng hoặc xanh xám, phía ngoài rải rác còn có lông đơn bào dài. Mô mềm vỏ gồm những tế bào tròn to, thành mỏng, chứa hạt tinh bột (dược liệu đã đồ chín thì tinh bột bị hồ hóa) và rải rác trong mô mềm còn có tế bào tiết tinh dầu màu vàng và các bó libe-gỗ nhỏ. Nội bì và trụ bì rõ. Mô mềm ruột có cấu tạo giống mô mềm vỏ. Trong mô mềm ruột có những bó libe-gỗ rải rác nhiều hơn, một số bó tập trung sát trụ bì, gần như tạo thành một vòng tròn.

Bột

Mảnh mô mềm gồm những tế bào thành mỏng chứa các hạt tinh bột. Nhiều hạt tinh bột hình trứng dài 12 µm đến 50 µm, rộng 8 µm đến 21 µm, có vân đồng tâm và rốn lệch tâm. Tế bào chứa tinh dầu và nhựa tạo thành những đám lổn nhổn màu vàng. Mảnh mạch mạng và mạch vạch.

Định tính

A. Lắc 0,5 g bột dược liệu với 3 ml ethanol 90% (TT) trong khoảng 5 min, để lắng. Nhỏ 3 đến 4 giọt dịch chiết ethanol lên giấy lọc. Để khô, trên giấy lọc còn lại vết màu vàng. Tiếp tục nhỏ từng giọt dung dịch acid boric 5% (TT) rồi dung dịch acid hydrocloric loãng (TT), làm như vậy vài lần và hơ nóng nhẹ cho khô, vết vàng sẽ chuyển thành màu đỏ. Sau đó thêm 3 giọt dung dịch amoniac 10% (TT). sẽ tiếp tục chuyển sang màu xanh đen.

B. Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại 366 nm, bột dược liệu có huỳnh quang màu vàng tươi.

C. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).

Bản mỏng: Silica gel G.

Dung môi triển khai: Cloroform – acid acetic (9: 1).

Dung dịch thử: Lấy 0,1 g bột dược liệu cho vào cốc thủy tỉnh, thêm 5 ml methanol (TT), đun tới sôi rồi để nguội, lọc, lấy dịch lọc làm dung dịch thử.

Dung dịch đối chiếu: Hòa tan curcumin chuẩn trong methanol (TT) để được dung dịch nồng độ khoảng 0,3 mg/ml.

Dung dịch dược liệu đối chiếu: Dùng 0,1 g bột Nghệ (mẫu chuẩn) chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 25 µl mỗi dung dịch trên. Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được khoảng 10 cm, lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng, phun hỗn hợp gồm 15 ml dung dịch acid boric 3% (TT) và 5 ml dung dịch acid oxalic 10% (TT), đã trộn kỹ. Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết tương đương về vị trí và cùng màu với vết curcumin trên sắc ký đồ dung dịch đối chiếu hoặc có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.

Độ ẩm

Không quá 12,0% (Phụ lục 12.13).

Tạp chất (Phụ lục 12.11)

Tỷ lệ non, xốp: Không quá 1,0%.

Tạp chất khác: Không quá 1,0%.

Tro toàn phần

Không quá 8,0% (Phụ lục 9.8).

Tro không tan trong acid

Không quá 1,0% (Phụ lục 9.7).

Chất chiết được trong dược liệu

Không ít hơn 12,0%, tính theo dược liệu khô kiệt.

Tiến hành theo phương pháp chiết lạnh (Phụ lục 12.10). Dùng ethanol 50% (TT) làm dung môi.

Định lượng

A. Định lượng tinh dầu (Phụ lục 12.7).

Lấy chính xác khoảng 30 g dược liệu đã tán thành bột thô vào bình cầu có dung tích 500 ml của bộ dụng cụ dùng định lượng tinh dầu trong dược liệu. Thêm 150 ml nước, tiến hành cất trong 3 h. Hàm lượng tinh dầu không ít hơn 4,0% tính theo dược liệu khô kiệt.

B. Định lượng curcuminoid: Phương pháp đo quang phổ hấp thụ tử ngoại và khả kiến (Phụ lục 4.1). Dung dịch chuẩn gốc: Hòa tan curcumin chuẩn trong methanol (TT) để được dung dịch có nồng độ chính xác khoảng 400 µg/ml.

Lập đường chuẩn: Từ dung dịch chuẩn gốc tiến hành pha dãy dung dịch curcumin chuẩn trong methanol (TT) có nồng độ lần lượt là 0,8; 1,6; 2,0; 2,4 và 3,2 µg/ml.

Dung dịch thử: Cân chính xác khoảng 300 mg bột thô dược liệu, cho vào bình định mức 10 ml, thêm tetrahydrofuran (TT), trộn đều và pha loãng tới vạch bằng cùng dung môi. Để ở nhiệt độ phòng trong 24 h, thỉnh thoảng lắc. Để lắng, lấy chính xác 1 ml dịch trong ở phía trên vào bình định mức 25,0 ml, thêm methanol (TT) đến vạch, lắc đều. Pha loãng 1,0 ml dung dịch thu được thành 50,0 ml băng methanol (TT).

Đo độ hấp thụ của các dung dịch chuẩn và thử trên tại bước sóng 420 nm, dùng mẫu trắng là methanol (TT). Từ kết quả thu được lập đường chuẩn biểu thị sự liên quan giữa nồng độ curcumin và độ hấp thụ. Dựa vào đường chuẩn đã lập ở trên và kết quả thu được, tính hàm lượng curcumin trong dung dịch thử và trong dược liệu.

Dược liệu phải chứa không ít hơn 5,0% curcuminoid tính theo curcumin, tính theo dược liệu khô kiệt.

Chế biến

Nghệ thái lát: Lấy dược liệu khô chưa thái phiến, loại bỏ tạp chất, ủ mềm, thái phiến dày, phơi hoặc sấy khô dùng làm thuốc

Bảo quản

Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô, trong đồ đựng kín, tránh mốc, mọt.

Dược liệu đã chế biến: Để trong đồ đựng kín, tránh ẩm mốc, nên dùng trong 3 tháng sau khi chế biến.

Tính vị, quy kinh

Vị cay, hơi đắng, tính ôn. Vào các kinh tỳ, can.

Công năng, chủ trị

Hành khí, phá ứ, thông kinh giảm đau, tiêu thực, tiêu đờm, lên da. Chủ trị: đau nhức mình mẩy, ngực sườn đau nhói, bế kinh, huyết kinh có hòn cục, đau nhức vai gáy.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng từ 6 g đến 12 g, dạng thuốc sắc hoặc bột.

Dùng ngoài: Lấy dịch ép từ củ tươi bôi vào vết thương để chóng lên da non. Lượng thích hợp.

Kiêng kỵ

Không thuộc chứng uất trệ, tà thực khí uất không nên dùng.

Ghi chú

Không nhầm Khương hoàng với Uất kim. Uất kim là đoạn rễ phình ra thành củ nhỏ (rễ củ con) còn gọi là dái củ nghệ hay củ dái, được nối với thân rễ bằng một đoạn rễ nhỏ. Khi thu hoạch Khương hoàng thì thường phải đào dỡ dưới đất sâu hơn mới thu được Uất kim. Củ dái của cây Ngọc kinh, còn gọi là Nghệ trắng (Curcuma aromatica Salisb.) cũng gọi là Uất kim.

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1463-1464, tải PDF tại đây 

THÔNG TIN TƯ VẤN