TẬP 1
- Lịch sử Dược điển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Hội đồng Dược điển Việt Nam VI
- Các cộng tác viên
- Các cơ quan và đơn vị tham gia xây dựng Dược điển Việt Nam VI
- Danh mục các chuyên luận mới so với DĐVN V
- Danh mục các chuyên luận DĐVN V có sửa đổi bổ sung
- Quy định chung
- Ký hiệu các chữ viết tắt
- Chuyên luận: Nguyên liệu hóa dược và thành phẩm hóa dược (Vần A đến H)
- Bảng tra cứu tên tiếng Anh, mã số định danh của các nguyên liệu hóa dược trong Dược điển Việt Nam VI (Vần A đến H)
- Mục lục tra cứu theo tên Việt Nam
MỘT DƯỢC (Gôm nhựa)
MỘT DƯỢC (Gôm nhựa)
Myrrha
Chất gôm nhựa của cây Một dược [Commiphora myrrha (Nees) Engl.] và cây Balsamodendron chrenbergianum Berg., họ Trám (Burseraceae). Thu hoạch từ tháng 7 đến 9 là tốt nhất, khi đó lượng Một dược nhiều, chất lượng tốt. Năm sau, từ tháng 1 đến 3 lại có thể thu hoạch được. Nhựa cây được chảy ra từ vết nứt tự nhiên của cây Một dược. Để thu hoạch được nhiều, người ta có thể khía sâu vào vỏ thân và cành to. Nhựa mới chảy ra thành giọt sền sệt như dầu đặc, màu trắng hoặc vàng nhạt, dần dần biến thành khối cục cứng trong không khí, có màu vàng sẫm, nâu vàng hoặc có khi đỏ nhạt, cuối cùng là màu đỏ sẫm. Thu lấy nhựa, loại bỏ tạp chất.
Mô tả
Một dược thiên nhiên: Có dạng khối, cục, hạt không đều, cục lớn dài 6 cm. Mặt ngoài màu nâu vàng hoặc nâu đỏ, có khi trong mờ. Một số khối có màu đen nâu, nhiều dầu, được phủ bụi phấn màu nâu vàng đất. Chất cứng, giòn. Mặt bị vỡ không phẳng. Có mùi thơm đặc biệt. Vị đắng hơi cay.
Ghi chú: Loại có màu nâu vàng, mặt vỡ hơi trong, tinh dầu nhuận, hương thơm nồng, vị đắng, không có tạp là tốt.
Bột
Bột có màu nâu đỏ hoặc màu vàng nâu. Lên tiêu bản bột bằng dung dịch cloral hydrat (TT), soi kính hiển vi thấy: mảnh bần màu nâu đỏ; các tế bào đá hình đa giác hoặc thuôn dài nằm đơn lẻ hoặc thành đám, thành dày một bên, hóa gỗ và có nhiều lỗ nhỏ (rỗ), bên trong có chứa chất màu nâu; mảnh mô mềm thành mỏng và các sợi mô cứng; tinh thể calci oxalat hình đa giác hoặc lăng trụ không đều, kích thước khoảng 10 – 25 µm.
Định tính
A. Lấy vài hạt nhỏ, cho thêm dung dịch vanilin trong acid hydrocloric (TT), lắc đều, sẽ có màu đỏ thắm.
B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel 60F 254
Dung môi khai triển: Cyclohexan – di-isopropyl ether – acid acetic băng (60: 40:10).
Dung dịch thử: Lấy 0,2 g bột, thêm 4 ml ethanol 96% (TT), lắc siêu âm trong 10 min, lọc. Dịch lọc dùng để chấm sắc ký.
Dung dịch dược liệu đối chiếu: Lấy 0,2 g Một dược (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử. Dung dịch phân giải: Hòa tan 10 mg thymol (TT) và 40 µl anethol (TT) trong 10 ml ethanol 96% (TT).
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 µl mỗi dung dịch trên thành các vạch dài khoảng 8 mm. Sau khi triển khai sắc ký, lấy bản mỏng ra, để khô ngoài không khí. Phun dung dịch anisaldehyd (TT), sấy bản mỏng ở 100 °C đến khi hiện rõ vết. Quan sát bản mỏng dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch phân giải phải có 2 vết tách nhau hoàn toàn trong đó có một vết màu vàng cam của thymol và một vết màu tím của anethol nằm ngay phía trên vết thymol. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.
Độ ẩm
Không quá 15,0% (Phụ lục 9.6, 1,000 g, 105 °C, 2 h).
Tạp chất
Vỏ cây còn sót lại không quá 2,0% (Phụ lục 12.11).
Tro toàn phần
Không quá 15,0% (Phụ lục 9.8).
Tro không tan trong acid
Không quá 10,0% (Phụ lục 9.7).
Cắn không tan trong ethanol
Không quá 75%.
Cân chính xác khoảng 1,00 g bột dược liệu đã qua rây 250 vào trong bình nón. Thêm 30 ml ethanol 96% (TT) và lắc mạnh trong 10 min. Để lắng, gạn dịch chiết và lọc qua giấy lọc đã được sấy ở 100 – 105 °C đến khối lượng không đổi. Cắn ở trong bình nón được chiết như trên 2 lần nữa, mỗi lần 20 ml ethanol 96% (TT). Dùng ethanol 96% (TT) chuyển toàn bộ cắn trong bình nón vào giấy lọc trên. Sấy cắn và giấy lọc ở 100 – 105 °C đến khối lượng không đổi. Tính phần trăm lượng cắn không tan theo dược liệu nguyên trạng.
Chế biến
Bột Một dược: Lấy Một dược sạch, giã vụn, sao qua với Đăng tâm thảo, tán bột mịn. Cứ 40 g Một dược dùng 1 g Đăng tâm thảo.
Bột Một dược thủy phi: Cho ít rượu vào Một dược, nghiền nát, cho nước vào thủy phi đến bột mịn, lấy bột phơi khô.
Bột một dược tẩm giấm: Lấy Một dược sạch, cho vào chảo sao nhỏ lửa đến khi mặt ngoài hơi tan, lấy ra, để nguội hoặc sao đến mặt ngoài hơi tan thì phun giấm, tiếp tục sao đến khi mặt ngoài sáng bóng, lấy ra để nguội. Cứ 100 kg Một dược dùng 6 L giấm.
Bảo quản
Trong đồ đựng kín, để nơi khô, mát, tránh ẩm.
Tính vị, quy kinh
Vị đắng, tính bình. Vào các kinh can, tâm, tỳ.
Công năng, chủ trị
Hoạt huyết, khứ ứ, chỉ thống tiêu sưng, sinh cơ, thông kinh. Chủ trị: Kinh bế, thống kinh, đau thượng vị, nhọt độc sưng đau, sưng đau do sang chấn, trĩ, mục trướng (đục thủy tinh thể).
Dùng ngoài để thu miệng, lên da non vết loét lâu lành.
Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng từ 4 g đến 12 g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Dùng ngoài tán bột để bôi, đắp chỗ đau.
Kiêng kỵ
Phụ nữ có thai, mụn nhọt đã vỡ không nên dùng.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1453-1454, tải PDF tại đây
