MAI MỰC Tính vị, quy kinh, Công năng, chủ trị - Dược điển Việt Nam 6


MAI MỰC

25/05/2026
MAI MỰC

MAI MỰC
Sepiae Os
Ô tặc cốt

Mai rửa sạch được làm khô của con Cá mực (Sepia esculenta Hoyle), họ Mực nang (Sepiidae). Mực bắt về bóc lấy mai (vỏ cứng bên ngoài), ngâm nước gạo hai ngày một đêm để giảm bớt chất mặn, hàng ngày thay nước. Rửa sạch. Luộc kỹ để tiệt trùng, loại bỏ tạp chất, phơi khô. Không được sấy vì dễ chuyển thành màu vàng không tốt.

Mô tả

Mai mực hình bầu dục dài 13 cm đến 23 cm, rộng 6,5 cm đến 8 cm và dẹt, mép mỏng. Lưng cứng, màu trắng hay trắng ngà, hai bên có rìa màu vàng đậm hơn. Trên mặt lưng có u hạt nổi lên, xếp thành những đường vân hình chữ U mờ. Mặt bụng màu trắng, xốp, có những đường vân ngang nhỏ, dày đặc, tựa như những làn sóng gợn, có 1 rãnh dọc nông ở giữa mặt bụng. Mép như sừng của phần đuôi mở rộng dần và uốn cong về phía bụng, tận cùng phần đuôi có gai như chất xương, thường bị gãy và rơi rụng. Trừ phần lưng và mép bụng, có thể chất cứng, còn toàn bộ mai mực có thể dùng móng tay nghiền dễ dàng thành bột mịn. Vị hơi mặn và chát. Mùi hơi tanh.
Ghi chú: Loại mai mực có màu trắng, xốp, còn nguyên mai, màu trắng nhẹ, không vụn nát, không đen, không có màu vàng là loại tốt. Loại mực chết dạt vào bãi biển cấm nhặt về lấy mai để dùng.

Bột

Phần nhiều màu trắng, mùi hơi tanh, vị mặn. Quan sát trên kính hiển vi thấy: Những mảnh vỡ của lớp sừng không đều, thường có hình tứ giác, bề mặt có hình vân lưới đan xen với các vết nứt ngang và các đường dọc nhỏ trên bề mặt, đôi khi các mảnh chỉ có các đường dọc. Các mảnh đá vôi ở dưới dạng phiến mỏng, hình vuông hoặc không đều, có nhiều sọc mảnh hoặc phân nhánh ngoằn ngoèo.

Định tính

Lấy khoảng 0,5 g bột dược liệu, thêm 10 ml dung dịch acid hydrocloric 10 % (TT), sẽ có sủi bọt và tan gần hết.

Độ ẩm

Không quá 5,0 % (Phụ lục 9.6, 1 g, 105 °C, 5 h).

Tạp chất

Không quá 1,0 % (Phụ lục 12.11).

Chế biến

Lấy mai mực khô, sao qua, tán bột.

Bảo quản

Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô, mát.
Dược liệu đã chế biến: Để trong đồ đựng kín, để nơi khô ráo, tránh mốc. Khi ô tặc cốt chuyển màu vàng phải bỏ đi, không dùng. Nên dùng trong 6 tháng sau khi chế biến.

Tính vị, quy kinh

Vị mặn, tính ôn. Vào các kinh vị, thận (có sách ghi vào kinh can).

Công năng, chủ trị

Thông huyết mạch, trừ hàn thấp, thu liễm, sáp tinh, chế toan. Chủ trị: Trị đau dạ dày do đa toan (dạ dày nhiều chất chua), bệnh nhân hay ợ chua lúc đói, viêm loét dạ dày, thổ huyết, nục huyết, bế kinh, đới hạ, di tinh, hoạt tinh, âm nang lở ngứa.
Dùng ngoài: Tán bột thật mịn, rắc lên vết thương nhiều mủ chưa thu liễm.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng từ 6 g đến 12 g dạng thuốc bột. Thường phối hợp với các vị thuốc khác điều trị chứng dạ dày đa toan, liều lượng theo yêu cầu của bài thuốc.
Dùng ngoài: Lượng bột thích hợp.

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1440-1441, tải PDF tại đây.

THÔNG TIN TƯ VẤN