LỘC GIÁC SƯƠNG Công năng, chủ trị, Bảo quản - Dược điển Việt Nam 6


LỘC GIÁC SƯƠNG

23/05/2026
Lộc giác sương

LỘC GIÁC SƯƠNG
Cervi Cornu degelatinatum

Bã gạc hươu (miếng gạc còn lõi cứng, bóp không nhũn sau khi nấu cao) được làm khô. Chọn trong đống bã gạc hươu sau khi đun lấy nước 3 lần để nấu cao để lấy miếng gạc còn ít lõi chưa bị hòa tan (mảnh bã gạc hươu bóp không nhũn), đem phơi khô. Khi nghiền hoặc tán nhỏ sẽ thành bột trắng.

Mô tả

Khối hình trụ tròn dài hoặc chẻ thành từng miếng, bị vỡ, lớn nhỏ không đều nhau. Mặt ngoài màu trắng, có chất bột, thường có cạnh dọc, đôi khi có điểm chấm nhỏ, màu xám hoặc nâu xám. Thể nhẹ, chất xốp, giòn. Mặt bẻ gãy có phần ngoài tương đối đặc, màu trắng hoặc trắng xám, phần giữa có lỗ dạng tổ ong, màu nâu xám hoặc vàng xám. Có tính hút ẩm. Vị nhạt, nhai có cảm giác dính răng.

Độ ẩm

Không được quá 8,0 % (Phụ lục 9.6, 2 g, 105 °C, 5 h).

Bào chế

Phơi khô, đập vụn, tán nhỏ trước khi dùng.

Bảo quản

Để trong đồ đựng kín, tránh mốc, nên dùng trong 6 tháng.

Tính vị, quy kinh

Vị hơi ngọt, tính ôn. Vào kinh tỳ.

Công năng, chủ trị

Kiện bổ tỳ vị. Chủ trị: Người lớn ăn uống kém, trẻ em lười ăn, đại tiện phân sống.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng từ 12 g đến 16 g, dạng thuốc hoàn tán hoặc hòa bột thuốc với nước sắc thuốc thang để uống.

Kiêng kỵ

Tỳ vị nhiệt, táo bón không dùng.

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1421-1430, tải PDF tại đây.

THÔNG TIN TƯ VẤN