LINH CHI Chất chiết được trong dược liệu - Dược điển Việt Nam 6


LINH CHI

23/05/2026
Linh chi

LINH CHI
Ganoderma
Nấm lim, Nấm trường thọ

Thể quả hóa gỗ được làm khô của Linh chi[Ganoderma lucidum (Leyss. ex Fr) Karst.], họ Nấm lim (Ganodermataceae). Thu hái quanh năm, lúc trời khô ráo, loại bỏ tạp chất, phơi khô trong bóng râm hay sấy ở 40 °C đến 50 °C đến khô.

Mô tả

Thể quả dạng hình thận, hình tròn hay hình quạt, hóa gỗ, cứng, đường kính 5 cm đến 18 cm, dày 1 cm đến 2 cm. Mặt trên màu nâu vàng đến nâu đỏ, bóng loáng như đánh vecni, có những vòng đồng tâm và nếp nhăn tỏa ra, mép mỏng, nhẵn, hơi lượn sóng. Mặt dưới màu vàng nâu đến nâu nhạt với các lỗ nhỏ li ti. Phần trong xốp, màu trắng đến nâu nhạt. Cuống hình trụ, đính lệch, có khi phân nhánh, dài 6 cm đến 10 cm, đường kính 1 cm đến 3,5 cm, màu nâu đỏ đến nâu đen. Mùi thơm nhẹ, vị đắng.

Bột

Bột màu vàng nâu. Soi bột dưới kính hiển vi thấy: Sợi nấm rải rác hoặc tụ thành đám, không màu hoặc nâu nhạt, mảnh, hơi cong, phân nhánh, đường kính 2,5 µm đến 6 µm. Bào tử hình trứng, màu nâu, đứng riêng lẻ hay tụ thành từng đám, dài 8 µm đến 12 µm, rộng 5 µm đến 8 µm, đỉnh trơn nhẵn, lớp vỏ ngoài không màu, lớp vỏ trong có nhiều chỗ lồi ra.

Định tính

A. Lấy 2 g bột dược liệu, thêm 20 ml ethanol 96 % (TT), đun sôi hồi lưu 1 h, lọc. Nhỏ vài giọt dịch lọc lên tờ giấy lọc, sấy nhẹ cho khô, phun hỗn hợp dung dịch sắt (III) clorid 0,9 % (TT) và dung dịch kali fericyanid 0,6 % (TT) theo tỷ lệ (1 : 1), sẽ có màu xanh lơ.

B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: Ether dầu hỏa (60 °C đến 90 °C) – ether ethylic – acid formic (15 : 5 : 1).
Dung dịch thử: Lấy 2 g bột thô dược liệu, thêm 30 ml methanol (TT), đun hồi lưu trong 30 min, lọc. Bốc hơi dịch lọc trên cách thủy đến cạn. Hòa cắn trong 2 ml methanol (TT).
Dung dịch dược liệu đối chiếu: Lấy 2 g bột thô Linh chi (mẫu chuẩn) tiến hành chiết như mẫu thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 µl mỗi dung dịch trên. Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được 10 cm đến 12 cm, lấy bản mỏng ra, để khô trong không khí, quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu (có ít nhất 4 vết phát quang màu vàng ánh xanh, trong đó có vết thứ hai từ trên xuống có cường độ đậm hơn nhiều so với các vết khác).

Độ ẩm

Không quá 17,0 % (Phụ lục 9.6, 1 g; 100 °C; 5 h).

Tro toàn phần

Không quá 3,0 % (Phụ lục 9.8).

Tro không tan trong acid

Không quá 0,5 % (Phụ lục 9.7).

Chất chiết được trong dược liệu

Không ít hơn 3,0 %, tính theo dược liệu khô kiệt. 

Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10). Dùng ethanol 95 % (TT) làm dung môi.

Chế biến

Linh chi thái phiến: Đồ mềm phần thể quả khô rồi thái phiến dài 5 cm đến 7 cm, dày 2 mm đến 3 mm, phơi hoặc sấy ở 40 °C đến 50 °C đến khô.

Bảo quản

Trong bao bì kín, để nơi khô ráo, tránh mốc mọt, sâu bọ.

Tính vị, quy kinh

Vị hơi đắng, ngọt. Tính ôn, bình, không độc. Vào các kinh can, thận.

Công năng, chủ trị

Hành khí, hoạt huyết, tư bổ chính khí. Chủ trị: Hư lao (sức đề kháng giảm, tiêu hóa kém, mỡ máu cao, khí huyết hư), khí huyết ứ trệ (bệnh mạch vành, tăng huyết áp, thống phong thấp khớp).

Ghi chú: Linh chi được lấy từ nguồn nuôi trồng hoặc trong tự nhiên. Linh chi loại tốt nhất là loại mọc hoang trên rừng núi cao, ở những vùng khí hậu đặc biệt (khí hậu lạnh). Nấm Linh chi màu vàng và màu đỏ mọc trên cây lim còn các loại khác mọc trên kẽ đá trên núi cao. Một số loại linh chi đã được sử dụng như sau:
Thanh chi (Linh chi màu xanh): Vị đạm, hơi chua. Tính bình, không độc. 

Công dụng: Bổ gan làm sáng mắt, an thần, tăng trí nhớ, tăng cường khí lực. Trị viêm gan cấp tính và mạn tính, trị chứng đau đầu do làm việc bằng trí óc nhiều. Phải phối hợp với một số vị thuốc khác.
Hồng chi (Linh chi màu đỏ hoặc đỏ nâu): Tên khác: Đơn chi, xích chi. Vị đắng. Tính bình không độc. Công dụng: Làm giảm hồi hộp đánh trống ngực do rối loạn thần kinh thực vật, tăng trí nhớ. Trị các bệnh thuộc về huyết. Chú ý phối hợp với các vị thuốc khác dùng độc vị không có kết quả.
Hoàng chi (Linh chi màu vàng): Tên khác: Kim chi. Vị ngọt, tính bình không độc.

Công dụng: Tăng cường và làm mạnh hệ thống miễn dịch, giúp đề phòng các loại bệnh tật đối với cơ thể. Có tác dụng bổ khí dưỡng huyết, tăng cường sinh lực. Có thể dùng ngày 20 g đến 30 g, đun nước uống hàng ngày.

Bạch chi (Linh chi màu trắng). Tên khác: Ngọc chỉ.

Vị cay. Tính bình không độc.

Công dụng: ích bổ phế khí. Phối hợp với các vị thuốc khác trị chứng hen suyễn, ho có đờm và không có đờm

Hắc chi (Linh chi màu đen). Tên khác: Huyền chi.

Vị mặn, tính bình không độc.

Có tác dụng đối với các chứng bệnh ở cơ quan tiết niệu như: Bí tiểu tiện, sỏi thận, sỏi bàng quang. Dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Tử chi (Linh chi màu tím)

Vị ngọt. Tính ôn không độc.

Phối hợp với các vị thuốc khác trị chứng đau nhức xương khớp, gân cốt.

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1423-1424, tải PDF tại đây.

THÔNG TIN TƯ VẤN