KHỔ SÂM (Lá và Cành) - họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) - Dược điển Việt Nam 6


KHỔ SÂM (Lá và Cành)

23/05/2026
KHỔ SÂM (Lá và Cành)

KHỔ SÂM (Lá và Cành)

Crotonis tonkinensis Folium et Ramulus

Dã hòe

Lá và cành nhỏ được làm khô của cây Khổ sâm (Croton tonkinensis Gagnep.), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Thu hoạch lá và ngọn non quanh năm (thu hoạch vào cuối mùa xuân là thời kỳ có chất lượng tốt nhất), rửa sạch, cắt thành từng đoạn dài khoảng 1 cm đến 3 cm, phơi trong bóng râm hoặc sấy nhẹ đến khô.

Mô tả

Dược liệu là lá nguyên hay đã gãy vụn thành những mầu dài khoảng 1 cm đến 3 cm, trộn lẫn với một số đoạn cành hay ngọn non có thể mang hoa, quả. Mảnh vụn của lá có hai màu rõ rệt: Mặt trên lục xám có rất nhiều đốm trắng lấm tấm, mặt dưới màu trắng bạc. Đoạn thân cành có màu xám trắng, thiết diện hơi tròn hoặc có khía dọc. Lá trên cây mọc so le hay mọc chụm ở gần ngọn. Phiến hình mác (lá hình bầu dục, nhọn đầu), mặt trên xanh thẫm, mặt dưới màu bạc, gân giữa và gân phụ hai bên nổi rõ, xuất phát từ gốc. Nơi tiếp giáp giữa cuống lá và phiến có hai tuyến nhỏ. Hoa mọc thành chùm. Quả nang, chia thành ba ngăn rõ rệt, mỗi ngăn chứa một hạt màu nâu. Lá khô giòn, dễ bè, vò ra có mùi thơm nhẹ, vị hơi chát, se lưỡi.

Vi phẫu

Lá: Mặt cắt ngang gân giữa và một ít phiến lá ở hai bên có dạng lồi ở hai mặt trên và dưới. Biểu bì trên gần như không có lông, bề mặt của biểu bì dưới phủ đầy lông. Mỗi lông hình khiên được cấu tạo bởi nhiều tế bào dài, thành mỏng, trong suốt và hơi nhọn ở đầu, kết dính nhau tạo thành. Chân lông ngắn, có màu vàng nâu. Nhìn trên mặt biểu bì tách ra, lông có dạng hoa cúc đồng tiền gồm nhiều “cánh” tỏa tròn xếp trên một mặt phẳng với chân lông và vòng tròn nhỏ ở giữa. Xen lẫn giữa các tế bào biểu bì bình thường rải rác có tế bào biểu bì tiết to hơn, chứa chất tiết màu vàng nhạt đôi khi kết thành khối.

Phần gân giữa: Ở mặt trên và dưới rải rác có biểu bì tiết. Ngay sát biểu bì có mô dày góc ứng với phần lồi trên và dưới. Ở lá non, bó libe-gỗ có hình cung. Ở lá trưởng thành, bó libe-gỗ gồm nhiều đám rời xếp theo vòng tròn với gỗ ở vòng trong và libe ở vòng ngoài. Mô mềm của vùng gân giữa có nhiều tế bào chứa tinh thể calci oxalat hình cầu gai và ống nhựa mù cắt ngang còn chứa chất nhựa dầu màu vàng nhạt. 

Phần phiến lá: Sát biểu bì trên là một hàng mô dậu gồm các tế bào hình chữ nhật nhỏ và dài, rải rác có một số tế bào mô dậu to hơn chứa tinh thể calci oxalat hình cầu gai, bên dưới mô dậu là mô khuyết. Tinh thể calci oxalat có ít trong vùng mô dậu và có nhiều hơn trong vùng mô khuyết 

Thân: Thiết diện hơi tròn hoặc có chỗ lồi lõm. Ngoài cùng là biểu bì mang lông hình khiên như ở lá. Dưới biểu bì là nhiều lớp mô dày góc, rải rác có ống nhựa mủ xen lẫn. Mô mềm vỏ và tủy có chứa nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai, hạt tinh bột hình đa giác thường tụ thành đám và ống nhựa mủ xếp rải rác. Ở thân già có đám sợi trụ bì ở vùng sát bên ngoài libe cấp 1. Lớp libe cấp 2 khá dày với nhiều mạch rây to. Gỗ cấp 2 gồm mô mềm gỗ thẳng hàng và mạch gỗ to. Gỗ cấp 1 khá rõ với nhiều đám nhô hẳn vào vùng tủy. Libe trong tủy tụ thành từng đám to, thành có tế bào khá dày và nhỏ hơn tế bào mô mềm tủy.

Bột

Bột dược liệu có màu xanh lá, ít có xơ, mùi thơm nhẹ, vị hơi chát, se lưỡi. Soi kính hiển vi thấy: Mảnh biểu bì có mang nhiều lông hình khiên và lỗ khí kiểu song bào. Lông hình khiên còn nguyên vẹn hay vỡ thành nhiều mảnh. Mảnh mạch vạch, mạch mạng. Hạt tinh bột riêng lẻ hay tụ lại thành đám. Sợi thành dày, không thấy lỗ trao đổi. Mảnh mô mềm chứa tinh bột. Tinh thể calci oxalat hình cầu gai. Khối nhựa màu vàng nhạt.

Định tính

A. Lấy khoảng 2 g bột dược liệu vào bình nón dung tích 100 ml, thêm 25 ml dung dịch acid sulfuric 2% (TT). Đun trong cách thủy ở 100 °C trong 10 min, lọc. Lấy khoảng 1 ml dịch lọc cho vào ống nghiệm, thêm vài giọt dung dịch sắt (III) clorid 5% (TT), xuất hiện màu nâu đen.

B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).

Bản mỏng Silica gel F254

Dung môi khai triển: n-Hexan – ethyl acetat (2 : 1).

Dung dịch thử: Lấy khoảng 1 g bột dược liệu cho vào bình nón, thêm 50 ml methanol (TT), siêu âm 30 min, lọc qua giấy lọc, cô dịch lọc còn khoảng 3 ml.

Dung dịch chất đối chiếu: Hòa tan ent-kauran (ent-7β-hydroxy-15-oxo kaur-16-en-18-yl acetat) chuẩn trong methanol (TT) để được dung dịch có nồng độ 0,5 mg/ml. Dung dịch dược liệu đối chiếu: Nếu không có ent-kauran chuẩn, dùng 1 g bột Khổ sâm (mẫu chuẩn) chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, lấy bản mỏng ra, để khô ngoài không khí hoặc sấy nhẹ cho bay hết dung môi. Quan sát dưới ánh sáng từ ngoại bước sóng 254 nm. Phun dung dịch acid sulfuric 10% trong ethanol (TT), sấy bản mỏng ở 110 °C trong khoảng 5 min đến khi hiện rõ vết. Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại bước sóng 366 nm. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết tương đương về vị trí và cùng màu với vết ent-kauran trên sắc ký đồ của dung dịch chất đối chiếu. Hoặc trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.

Độ ẩm

Không quá 13,0% (Phụ lục 9.6, 1 g, 100 °C, 4 h).

Tạp chất

Không quá 1,0% (Phụ lục 12.11).

Tỷ lệ thân cành

Không quá 20,0%.

Tỷ lệ vụn nát

Qua rây có kích thước mắt rây 4 mm: Không quá 5% (Phụ lục 12.12).

Tro toàn phần

Không quá 10,0% (Phụ lục 9.8)

Chất chiết được trong dược liệu

Không ít hơn 8,0%, tính theo dược liệu khô kiệt.

Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10), dùng ethanol 96% (TT) làm dung môi.

Định lượng

Phương pháp sắc ký lỏng (Phụ lục 5.3).

Pha động: Acetonitril – nước cất hai lần (65 : 35).

Dung dịch thử: Cân chính xác khoảng 1,0 g bột dược liệu (qua rây số 355) cho vào túi giấy lọc đặt vào bình Soxhlet. Thêm 200 ml methanol (TT) và chiết trong 3 h. Lấy dịch chiết, cất thu hồi dung môi tới cắn, hòa tan cắn bằng methanol (TT) và chuyển vào bình định mức 25 ml, thêm methanol (TT) đến vạch, lắc đều. Lọc, bỏ 5 ml dịch lọc đầu, lọc tiếp qua màng lọc 0,45 µm.

Dung dịch chuẩn: Hòa tan chuẩn ent-kauran (ent-7B-hydroxy-15-oxo kaur-16-en-18-yl acetat) trong methanol (TT) để được dung dịch gốc có nồng độ khoảng 1 mg/ml. Từ dung dịch chuẩn gốc tiến hành pha loãng trong methanol (TT) để được dãy dung dịch chuẩn có nồng độ tương ứng khoảng 5; 10; 50; 100; 200 và 500 µg/ml.

Điều kiện sắc ký:

Cột kích thước (4,6 mm × 25 cm) được nhồi pha tĩnh C (5 µm) hoặc tương đương.

Tốc độ dòng: 0,4 ml/min.

Thể tích tiêm: 10 μl.

Detector quang phổ tử ngoại đặt ở bước sóng 233 nm.

Thời gian tiến hành sắc ký: 45 min.

Cách tiến hành:

Kiểm tra tính phù hợp của hệ thống: Tiến hành sắc ký đối với dung dịch chuẩn nồng độ 200 µg/ml. Độ lệch chuẩn tương đối của diện tích pic ent-kauran trên sắc ký đồ thu được của 5 lần tiêm lặp lại không được quá 2,0%.

Tiến hành sắc ký các dung dịch chuẩn. Lập đường chuẩn biểu thị sự liên quan giữa nồng độ ent-kauran và diện tích pic ent-kauran.

Tiến hành sắc ký dung dịch thử. Dựa vào diện tích pic ent-kauran thu được và đường chuẩn đã lập, tính hàm lượng ent-kauran trong dược liệu.

Hàm lượng ent-kauran (C22H32O4) trong dược liệu không ít hơn 0,4%, tính theo dược liệu khô kiệt.

Bảo quản

Để nơi khô ráo, tránh ẩm mốc. Nên dùng trong vòng 180 ngày sau khi thu hái.

Tính vị, quy kinh

Vị đắng, tính hàn. Vào các kinh tâm, thận, can, vị, đại tràng, bàng quang.

Công năng, chủ trị

Thanh nhiệt, táo thấp, sát khuẩn, lợi tiểu. Chủ trị: Viêm loét dạ dày hành tá tràng thuộc nhiệt, nhiệt lỵ cấp tính đại tiện phân có máu, hoàng đản, tiểu tiện nước vàng, đái rắt; phụ nữ mắc chứng xích, bạch đới (khí hư), sưng ngứa âm hộ, viêm tử cung lộ tuyến. Thấp chẩn ngoài da. Viêm loét dạ dày, hành tá tràng (thuộc nhiệt).

Cách dùng, liều lượng

Dùng đường uống: Ngày dùng từ 8 g đến 16 g, có thể dùng 20 g, dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài: Mỗi ngày dùng 30 g đến 40 g lá khô đun với 3 L nước trong khoảng 1 h, để ấm vớt bỏ bã, lấy dịch chiết ngâm rửa trị chứng thấp chân ở chân, sưng ngứa âm hộ, viêm cổ tử cung lộ tuyến, ngâm rửa trước khi đi ngủ 30 min, dùng liên tục 30 ngày.

Kiêng kỵ

Tỳ hư không có thấp, can thận hư mà không có nhiệt không được dùng.

Ghi chú

Rễ khổ sâm cũng có tác dụng như lá. Sau khi thu hoạch, bỏ rễ con, lấy rễ to rửa sạch, thái phiến 1 cm đến 2 cm, phơi khô. Ngày dùng 4 g đến 8 g dạng thuốc sắc.

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1405-1406, tải PDF tại đây 

THÔNG TIN TƯ VẤN