HY THIÊM
HY THIÊM
Siegesbeckiae Herba
Cỏ đĩ
Bộ phận trên mặt đất được làm khô của cây Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.), họ Cúc (Asteraceae). Thu hoạch vào mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm, thời kỳ cây phát triển nhiều lá, sắp có hoa là tốt nhất. Khi trời khô ráo, cắt lấy toàn cây, bỏ gốc rễ và các lá khô vàng úa, rửa sạch, phơi hoặc sấy ở 50 °C đến 60 °C đến khô.
Mô tả
Thân rỗng ở giữa, đường kính 0,2 cm đến 0,5 cm. Mặt ngoài thân màu nâu sẫm đến nâu nhạt, có nhiều rãnh dọc song song và nhiều lông ngắn sít nhau. Lá mọc đối, phiến lá nhăn nheo và thường cuộn lại; lá nguyên có phiến hình mác rộng, mép khía răng cưa tù, có ba gân chính. Mặt trên lá màu lục sẫm, mặt dưới màu lục nhạt, hai mặt đều có lông. Cụm hoa hình đầu nhỏ, gồm hoa màu vàng hình ống ở giữa, 5 hoa hình lưỡi nhỏ ở phía ngoài. Lá bắc có lông dính.
Vi phẫu
Lá:
Gân lá: Gân phía trên và dưới đều lồi, mặt dưới lồi nhiều hơn. Biểu bì trên và dưới gồm một hàng tế bào hình trứng nhỏ, xếp liên tục đều đặn, mang lông che chở đa bào, dài, thường có 6 đến 8 tế bào xếp thẳng hàng, vách ngăn giữa các tế bào phình to đặc biệt, các tế bào càng gần đầu lông càng dài và nhỏ dần. Dưới biểu bì là mô dày, cấu tạo bởi các tế bào hình tròn nhỏ, có thành dày ở góc, xếp đều đặn thành 2 đến 3 hàng. Mô mềm gồm những tế bào hình tròn, thành mỏng, kích thước không đều nhau. Trong mô mềm rải rác có những ống tiết gồm 4 tế bào đến 5 tế bào nhỏ xếp thành vòng. Ở giữa gân lá có một bó libe-gỗ to, hình trứng, có lớp libe hình cung bao phía dưới bỏ gỗ, bó gỗ cấu tạo bởi các mạch gỗ tương đối nhỏ xếp thành hàng, tập trung thành đám. Trong gân lá có thể thấy 3 đến 5 bó libe-gỗ nhỏ hơn, xếp thành hình cung, có cấu tạo tương tự bó libe-gỗ to.
Phiến lá: Biểu bì trên và dưới cấu tạo bởi 1 hàng tế bào hình chữ nhật nhỏ, tế bào biểu bì trên có kích thước lớn hơn, có thể mang lông che chở đa bào cấu tạo tương tự như phần gân lá. Mô dậu là 2 hàng tế bào hình chữ nhật to, xếp sít nhau và thẳng góc với biểu bì trên. Mô khuyết là những tế bào thành mỏng, có kích thước không đều nhau. Giữa phiến lá có một số bó libe-gỗ hình trứng nhỏ của gân phụ.
Thân: Biểu bì gồm một hàng tế bào nhỏ, hình trứng, xếp đều đặn liên tục, có thể mang lông che chở đa bào cấu tạo tương tự như ở gân lá. Mô dày gồm 2 đến 3 hàng tế bào, có thành dày phát triển ở góc. Mô mềm vỏ gồm các tế bào hình tròn, thành mỏng kích thước không đều nhau. Trong mô mềm vỏ, sát với bó libe-gỗ hơn có những bó sợi lớn, xếp thành vòng liên tục hoặc gián đoạn, bao lấy bỏ libe-gỗ.
Ứng với mỗi bó sợi là một bó libe-gỗ hình trứng, tương đối to cũng xếp thành vòng liên tục. Trong bó libe-gỗ có libe hình bán nguyệt được bó sợi bao gần hết. Gỗ cấu tạo bởi các mạch gỗ to, xếp thành hàng, tập trung tạo thành bó. Trong cùng là mô mềm ruột gồm các tế bào to, hình tròn, thành mỏng, rải rác thấy một số ống tiết cấu tạo tương tự phần gân lá.
Bột
Màu lục xám. Soi kính hiển vi thấy: Lông che chở đa bào, dài, thường có 6 tế bào đến 8 tế bào xếp thành hàng, vách ngăn giữa các tế bào phình to đặc biệt, các tế bào càng gần đầu lông càng dài và nhỏ dần. Hai loại lông tiết: Loại đầu hình cầu đa bào, chân đơn bào và loại đầu hình cầu đơn bào, chân đa bào. Mảnh biểu bì mang lỗ khí. Mảnh mô mềm cấu tạo bởi các tế bào hình tròn, thành mỏng. Sợi đứng riêng lẻ hoặc tập trung thành bó, tế bào sợi ngắn và nhỏ, khoang rộng. Hạt phấn hoa hình cầu gai tương đối to, gai thưa và nhọn, bề mặt có 3 lỗ rãnh, đường kính khoảng 33 µm đến 35 µm, màu vàng nhạt. Mảnh cánh hoa gồm tế bào màu vàng nhạt, thành mỏng. Mảnh mạch vạch, mạch mạng.
Định tính
A. Lấy 3 g dược liệu đã tán nhỏ. Thêm 2 ml dung dịch amoniac 10% (TT), trộn cho thấm đều. Thêm 20 ml cloroform (TT). Lắc, để yên 4 h. Lọc vào bình gạn. Thêm 10 ml dung dịch acid sulfuric 10% (TT). Lắc kỹ rồi để yên cho dung dịch tách thành 2 lớp. Gạn lấy lớp dung dịch acid ở phía trên cho vào 3 ống nghiệm để làm các phản ứng sau:
Ống nghiệm 1: Thêm 1 giọt thuốc thử Mayer (TT), xuất hiện tủa trắng.
Ống nghiệm 2: Thêm 1 giọt thuốc thử Bouchardat (TT), xuất hiện tủa nâu.
Ống nghiệm 3: Thêm 1 giọt dung dịch acid picric 1% (TT), xuất hiện tủa vàng.
B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel GF 254
Dung môi triển khai: Toluen – ethyl acetat – aceton – acid axit formic (15:2:2:1).
Dung dịch thử: Lấy 2 g bột dược liệu, thêm 30 ml ethyl acetat (TT), lắc siêu âm 30 min, lọc. Cô dịch lọc trên cách thủy đến cạn. Hòa cắn trong 1 ml ethanol 96% (TT) được dung dịch thử.
Dung dịch dược liệu đối chiếu: Lấy 2 g Hy thiêm (mẫu chuẩn) đã nghiền nhỏ, tiến hành chiết như mô tả trong phần Dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 20 µl mỗi dung dịch trên. Triển khai sắc ký cho đến khi dung môi đi được khoảng 12 cm, lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng, phun dung dịch vanilin – acid sulfuric (TT), sấy bản mỏng ở 120 °C đến khi hiện rõ các vết. Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.
Độ ẩm
Không quá 15,0% (Phụ lục 9.6, 2 g, 100 °C, 4 h).
Tạp chất (Phụ lục 12.11)
Tạp chất khác: Không quá 1,0%.
Tỷ lệ lá trong dược liệu: Không ít hơn 40,0%.
Tỷ lệ vụn nát
Qua rây có kích thước mắt rây 4 mm: Không quá 5,0% (Phụ lục 12.12).
Tro toàn phần
Không quá 13,0% (Phụ lục 9.8).
Chất chiết được trong dược liệu
Không ít hơn 10,0% tính theo dược liệu khô kiệt.
Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10).
Dùng ethanol 70% (TT) làm dung môi.
Chế biến
Hy thiêm cắt đoạn: Lấy dược liệu khô cắt đoạn dài 2 cm đến 3 cm.
Mô tả: Gồm những đoạn không đều nhau. Thân gần vuông, rỗng ở giữa, bên ngoài màu nâu sẫm hoặc nâu nhạt, có rãnh dọc song song và nốt sần nhỏ. Mặt cắt có một phần ruột màu trắng. Lá thường vụn nát, màu lục xám, mép khía răng cưa tù, hai mặt phủ lông tơ màu trắng. Đôi khi gặp các đoạn thân mang cụm hoa hình đầu màu vàng. Mùi nhẹ, vị hơi đắng.
Bột, Định tỉnh, Độ ẩm, Tạp chất, Tỷ lệ vụn nát, Tro toàn phần, Chất chiết được trong dược liệu: Yêu cầu và phương pháp thử như đối với dược liệu chưa cắt đoạn.
Hy thiêm tẩm rượu: Cứ 1 kg dược liệu đã cắt đoạn tẩm với 100 ml đến 150 ml rượu, trộn đều, ủ 2 h, sao đến khi có mùi thơm. Mục đích của sao rượu là để thuốc đi vào phần huyết, giảm tính hàn của thuốc, dùng làm thuốc sắc.
Hy thiêm dùng nấu cao: Nếu nấu cao để dùng thời gian dài thì chuẩn bị dược liệu như sau: pha thêm 50 ml Mật ong vào rượu (1 kg dược liệu dùng 100 ml đến 150 ml rượu), tẩm đều vào dược liệu đã cắt đoạn. Tối tẩm rượu mật ong, ủ lại, ngày lấy ra phơi, làm như vậy 9 ngày đêm gọi là cửu xái. Sau đó lấy dược liệu này đem nấu thành cao đặc. Khi dùng, pha cao đặc hy thiêm vào dịch thuốc đã sắc uống. Mục đích cho mật ong vào để dễ uống, đồng thời làm ẩm trung tiêu trừ hàn tính.
Bảo quản
Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô, mát.
Dược liệu đã chế biến: Để nơi khô, mát. Nên dùng trong 30 ngày sau khi chế biến. Nếu đã nấu thành cao thì có thể dùng trong 12 tháng sau khi nấu.
Tính vị, quy kinh
Vị đắng, tính hàn, nếu đã nấu thành cao thì có tính ôn. Vào các kinh can, thận.
Công năng, chủ trị
Khu phong, trừ thấp, hoạt huyết, hoạt các khớp, giải độc. Chủ trị: Trị chứng phong nhiệt đau khắp mình mẩy, đau rã rời các khớp, tay chân tê buốt, phong chân thuộc nhiệt chứng.
Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng từ 8 g đến 12 g, có thể dùng 16 g, dạng thuốc sắc; nếu dùng cao đặc: ngày dùng từ 4 g đến 6 g, sau khi rót thuốc ra bát cho cao vào hòa tan uống ấm.
Kiêng kỵ
Không thuộc chứng phong nhiệt và thấp nhiệt không dùng.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1394-1396, tải PDF tại đây
