HƯƠNG NHU TÍA
HƯƠNG NHU TÍA
Ocimi tenuiflori Herba
É tía, Hương nhự
Đoạn đầu cành có hoặc không có hoa còn tươi hoặc được làm khô của cây Hương nhu tía (Ocimum tenuiflorum L. hay O. sanctum L.), họ Bạc hà (Lamiaceae). Thu hoạch vào mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 6, khi cây ra hoa. Sau khi thu hái, rửa sạch (nếu bẩn), phơi trong bóng râm (phơi âm can) đến thật khô. Không sấy vì mất tinh dầu.
Mô tả
Dược liệu tươi: Đoạn đầu thân và cành có thiết diện vuông, mặt ngoài màu nâu tím, có nhiều lông. Lá mọc đối chéo chữ thập, cuống dài 1 cm đến 2 cm. Phiến lá hình trứng, đầu thuôn nhọn, dài 2 cm đến 4 cm, rộng 1,5 cm đến 3,5 cm, mép có răng cưa, màu xanh lục ở mặt trên, tím đậm hoặc phớt tím ở mặt dưới, có lông. Hoa là xim co ở đầu cành, xếp thành từng vòng 6 đến 8 hoa. Toàn cây có mùi thơm đặc trưng; vị hơi cay, tê.
Dược liệu khô: Thân cành có thiết diện vuông, có nhiều lông, màu nẫu tía sẫm hoặc nâu. Lá thường quăn lại thành cụm, bên ngài có màu lục xám, có mùi thơm đặc biệt. Toàn cây có mùi thơm đặc trưng; vị hơi cay, tê.
Vi phẫu
Lá: Biểu bì trên và biểu bì dưới có mang lông che chở đa bào gồm 2 tế bào đến 10 tế bào xếp thành dãy dài. Tế bào của lông có thành khá dày, chỗ chân lông dính vào biểu bì các tế bào nhô cao tạo thành u lồi. Lông tiết có chân gồm 1 tế bào đến 2 tế bào ngắn, đầu thường có 2 tế bào đến 4 tế bào chứa tinh dầu màu vàng. Ở vùng gân chính có mô dày nằm sát biểu bì trên và biểu bì dưới. Cung libe-gỗ thường chia làm hai, phần trên có hai bó libe-gỗ nhỏ quay xuống đối diện với hai cung libe-gỗ to. Cung mô dày dính kèm theo phía dưới của cung libe. Phần phiến lá có một lớp mô dậu ở sát biểu bì trên, kế đến là mô khuyết.
Bột (đối với dược liệu khô)
Bột màu xanh nâu, mùi thơm, vị hơi cay. Dưới kính hiển vi thấy: Lông che chở đa bào có nhiều đoạn thắt, bề mặt lấm tấm. Lông tiết chân có 1 đến 2 tế bào ngắn, đầu có 2 đến 4 tế bào chứa tinh dầu màu vàng. Mảnh biểu bì lá có lỗ khí (kiểu trực bào). Mảnh mạch vạch, mạch xoắn, mạch mạng, mạch chấm. Hạt phấn hoa hình cầu đường kính 35 µm đến 39 µm, có 6 rãnh, bề mặt có dạng mạng lưới. Mảnh cánh hoa có tế bào màng ngoằn ngoèo, mang nhiều lông tiết. Sợi đứng riêng lẻ hay chụm thành từng đám. Tế bào mô cứng thành dày và có ống trao đổi rõ.
Định tính
A. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: Cyclohexan – ethyl acetat (9: 1).
Dung dịch thử: Lấy tinh dầu đã thu được ở phần Định lượng, pha loãng trong xylen (TT) theo tỷ lệ (1 : 1).
Dung dịch chất đối chiếu: Hòa tan 5 giọt eugenol chuẩn trong 1 ml xylen (TT).
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng khoảng 20 µl các dung dịch trên. Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được khoảng 12 cm, lấy bản mỏng ra, để khô trong không khí, phun dung dịch vanilin 1% trong acid sulfuric (TT), sấy bản mỏng ở 110 °C trong 5 min. Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết tương đương về vị trí và cùng màu với vết của eugenol trên sắc ký đồ của dung dịch chất đối chiếu trên sắc ký đồ của dung dịch thử, theo thứ tự từ vạch chấm sắc ký, các vết có màu sắc như sau: Vết màu tím, vết màu vàng cam (eugenol), vết màu xanh tím}.
Có thể phun dung dịch sắt (III) clorid 1% trong ethanol (TT) lên bản mỏng khác sau khi khai triển ở hệ dung môi trên để phát hiện riêng vết eugenol có màu vàng nâu.
B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: Cloroform – methanol (9: 1).
Dung dịch thử: Lấy khoảng 1 g bột dược liệu, thêm 30 ml methanol (TT), siêu âm 10 min, lọc. Lấy dịch lọc cất thu hồi dung môi tới còn khoảng 1 ml dùng làm dung dịch chấm sắc ký.
Dung dịch chất đối chiếu: Hòa tan acid ursolic chuẩn trong methanol (TT) để được dung dịch có nồng độ khoảng 0,2 mg/ml.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng khoảng 10 µl dung dịch thử và dung dịch đối chiếu. Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được 12 cm đến 13 cm, lấy bản mỏng ra, để khô trong không khí, phun lên bản mỏng dung dịch acid sulfuric 10% trong ethanol (TT), sấy bản mỏng ở 105 °C đến khi các vết hiện rõ. Quan sát dưới ánh sáng thường, trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết tương đương về vị trí và cùng màu tím đỏ với vết của acid ursolic trên sắc ký đồ của dung dịch chất đối chiếu.
Độ ẩm
Không được quá 13,0% (Phụ lục 12.13). Dùng 10 g dược liệu khô đã cắt nhỏ.
Tro toàn phần
Không được quá 16,0% (Phụ lục 9.8) đối với dược liệu khô.
Tro không tan trong acid
Không được quá 3,0% (Phụ lục 9.7) đối với dược liệu khô.
Tạp chất
Không được quá 1,0% (Phụ lục 12.11).
Dược liệu tươi: Không vàng úa, thối hỏng.
Định lượng (đối với dược liệu khô)
Định lượng tinh dầu trong dược liệu (Phụ lục 12.7). Cho 40 g dược liệu khô đã cắt nhỏ vào bình cầu dung tích 500 ml của bộ dụng cụ định lượng tinh dầu trong dược liệu, thêm 300 ml nước, 0,5 mlxylen (TT) vào ống hứng tinh dầu có khắc vạch, tiến hành cất trong 4 h. Dược liệu phải chứa ít nhất 0,5% tinh dầu, tính theo dược liệu khô kiệt.
Chế biến
Hương nhu tía cắt đoạn: Lấy dược liệu khô chưa cắt đoạn, loại bỏ tạp chất (không được rửa), cắt đoạn dài 2 cm đến 3 cm.
Mô tả: Dược liệu gồm các đoạn thân cành không đều, đoạn thân có thiết diện vuông, có nhiều lông, màu nâu tía sẫm hoặc nâu. Lá thường quản lại thành cụm, bên ngoài có màu lục xám, có mùi thơm đặc biệt. Toàn cây có mùi thơm đặc trưng; vị hơi cay, tê.
Bột, Định tính, Độ ẩm, Tro toàn phần, Tro không tan trong acid, Định lượng: Yêu cầu và phương pháp thử như dược liệu chưa cắt đoạn.
Bảo quản
Dược liệu chứa chế biến: Để nơi khô mát, tránh làm mất tinh dầu.
Dược liệu đã chế biến: Để trong đồ đựng kín, tránh mất tinh dầu, mốc mọt, nên dùng trong 30 ngày sau khi chế biến.
Tính vị, quy kinh
Vị cay, tính hơi ôn. Vào các kinh phế, vị.
Công năng, chủ trị
Phát hãn, thanh thử nhiệt, lợi thấp, hành thủy. Chủ trị: Giải cảm nắng, sốt nóng sợ rét, nhức đầu, đau bụng đi ngoài, thổ tả, nôn mửa, chuột rút, cước khí thủy thũng. Dùng ngoài trị ngứa lở ngoài da.
Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng từ 8 g đến 16 g dược liệu khô, có thể dùng 20 g, dạng thuốc sắc.
Dùng tươi: Hái lá, rửa sạch, dùng 100 g đến 300 g, vò nát, cho một ít nước sạch khoảng 100 ml đến 200 ml, vắt bỏ bã, uống dịch thu được để trị say nắng (cảm thử) hoặc thấy mệt choáng váng sau khi đi nắng.
Dùng nước sắc ngâm rửa để trị ngứa lở ngoài da, lượng thích hợp.
Kiêng kỵ
Người mắc chứng hư lao mãn tính cấm dùng.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1390-1382, tải PDF tại đây
