HOÀNG TINH (Thân rễ) Tính vị, quy kinh - Dược điển Việt Nam 6


HOÀNG TINH (Thân rễ)

23/05/2026
HOÀNG TINH (Thân rễ)

HOÀNG TINH (Thân rễ)
Polygonati Rhizoma
Củ cây cơm nếp, Đại hoàng tinh, Hoàng tinh đầu gà, Hoàng tinh dạng gừng

Thân rễ (thường gọi là củ) của một số loài Hoàng tinh: Polygonatum kingianum Collett Et Hemsl., Polygonatum sibiricum Redoté hoặc Polygonatum cyrtonema Hua, họ Mạch môn đông (Convallariaceae) đã được sơ chế bằng cách luộc kỹ và được làm khô. Dựa vào hình thái khác nhau, người ta phân biệt Đại hoàng tinh, Kê đầu hoàng tinh (Hoàng tinh đầu gà), Khương hình hoàng tinh (Hoàng tinh dạng gừng). Thu hoạch vào cuối mùa xuân đầu mùa hạ. Đào lấy thân rễ, cắt bỏ thân cây và rễ con, rửa sạch, đem luộc như hướng dẫn tại mục Chế biến đến hết lõi trắng, lấy ra, phơi hoặc sấy khô.

Mô tả

Hình dạng của từng củ khác nhau, củ to có đốt khi chưa bào chế (Chú ý để không nhầm với củ Dong trắng). Có thể phân loại như sau:

Đại hoàng tinh: Thân rễ nạc, dài hơn 10 cm, rộng 3 cm đến 6 cm, dày 2 cm đến 3 cm. Mặt ngoài màu vàng nhạt đến nâu vàng, có các mấu vòng, nếp nhăn và vết sẹo rễ dạng sợi, trên các mấu có vết tích của thân dạng vòng tròn lõm với phần giữa lồi lên. Chất cứng, dai, khó bẻ, mặt bẻ trông như sừng, màu vàng nhạt đến vàng nâu. Mùi thơm nhẹ, vị ngọt, dai dính.

Hoàng tinh đầu gà (Kê đầu hoàng tinh): Dược liệu có hình trụ, cong queo, dài 3 cm đến 10 cm, đường kính 0,5 cm đến 1,5 cm. Đốt dài 2 cm đến 4 cm, hơi có dạng chùy, thường phân nhánh. Mặt ngoài màu trắng ngà đến vàng xám, trong mờ, có những nếp nhăn dọc, vết sẹo của thân hình tròn, đường kính 5 mm đến 8 mm.

Hoàng tinh dạng gừng (Khương hình hoàng tinh): Độ dài, ngắn không đều nhau, thường nối liền nhau thành nhóm vài củ. Mặt ngoài màu vàng xám hoặc nâu vàng, xù xì, phía trên có vết sẹo của thân hình tròn lồi, đường kính 0,8 cm đến 1,5 cm. Không dùng làm thuốc nếu dược liệu có vị đắng.

Vi phẫu

Đại hoàng tinh: Tế bào biểu bì có thành tương đối dày. Nhiều tế bào nhày lớn chứa bó tinh thể calci oxalat hình kim, rải rác trong mô mềm. Các bó mạch nằm rải rác, thường ở dạng bó mạch đồng tâm.

Hoàng tinh đầu gà (Kê đầu hoàng tinh)Hoàng tinh dạng gừng: Có dạng bó mạch chồng chất.

Định tính

Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: Ether dầu hỏa (60 °C đến 90 °C) – ethyl acetat – acid formic (5 : 2 : 0,1).
Dung dịch thử: Lấy 1 g bột dược liệu, thêm 20 ml ethanol 70 % (TT), đun hồi lưu trong cách thủy 1 h, lọc dưới áp suất giảm. Bốc hơi dịch lọc đến khô. Hòa tan cắn trong 10 ml nước. Lắc dung dịch thu được hai lần, mỗi lần với 20 ml n-butanol (TT), gộp dịch chiết n-butanol và bốc hơi đến khô. Hòa tan cắn thu được trong 1 ml methanol (TT) được dung dịch chấm sắc ký.
Dung dịch dược liệu đối chiếu: Lấy 1 g bột Hoàng tinh (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, lấy bản mỏng ra, để khô trong không khí, phun dung dịch vanilin 5 % trong acid sulfuric (TT). Sấy bản mỏng ở 105 °C đến khi các vết hiện rõ. Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.

Độ ẩm

Không quá 18,0 % (Phụ lục 12.13).

Tro toàn phần

Không được quá 4,0 % (Phụ lục 9.8). 

Cắt nhỏ dược liệu, sấy khô vài giờ ở 80 °C trước khi thử.

Tro không tan trong acid

Không quá 1,0 % (Phụ lục 9.7).

Tạp chất (Phụ lục 12.11)

Phần gốc rễ còn sót và củ già đã xơ cứng: Không quá 2,0 %.
Tạp chất khác: Không quá 1,0 %.

Chất chiết được trong dược liệu

Không được dưới 45,0 % tính theo dược liệu khô kiệt. Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10). Dùng ethanol 50 % (TT) làm dung môi.

Chế biến

Hoàng tinh chỉ dùng làm thuốc sau khi đã chế biến. 

Các phương pháp chế biến:
Phương pháp 1: Sau khi thu hoạch, rửa sạch, cho vào nồi đổ ngập nước, đun sôi 30 min, đổ ra bỏ nước để loại chất ngứa, sau đó phơi hoặc sấy khô để bảo quản và phân phối. Cho Hoàng tinh đã loại chất ngứa vào nồi, để ráo nước, cho vào nồi đổ ngập nước 5 cm đến 6 cm, đun đến khi gần cạn nước (nên đặt vỉ lót đáy nồi để không bị cháy khét) thì vớt ra để se, lấy nước còn lại tẩm củ Hoàng tinh phơi trong bóng râm, làm nhiều lần cho đến khi hết nước, cầm củ Hoàng tinh không dính tay. Sau đó cho Hoàng tinh vào cóng bằng đồng hoặc bằng nhôm (không đậy nắp), đặt cóng vào một nồi khác, đổ nước bên ngoài cóng, đậy kín vung nồi bên ngoài, đun cách thủy để hơi nước bốc lên rơi vào cóng. Đun trong thời gian 6 h đến 8 h, thỉnh thoảng tiếp nước sôi cho nồi bên ngoài. Lấy Hoàng tinh ra phơi trong bóng râm cho khô (đến khi cầm củ Hoàng tinh không dính tay). Nếu trong cóng còn nước thì tiếp tục lấy tẩm Hoàng tinh rồi phơi cho khô.
Phương pháp 2: Sau khi thu hoạch, lấy thân rễ đem rửa sạch, ngâm nước một đêm, bỏ nước ngâm đi (nếu là thứ chưa luộc) hoặc lấy thân rễ đã rửa sạch cho vào nồi, đổ ngập nước, luộc sôi 30 min, đổ ra bỏ nước. Lấy Hoàng tinh đã ngâm hoặc luộc cho vào nồi trong đó có mật mía pha loãng trộn với Gừng đã giã nhỏ (cứ 1 kg Hoàng tinh dùng 250 ml mật mía pha với 250 ml nước sạch, 25 g Gừng tươi giã giập). Đun sôi cạn gần hết nước mật, thỉnh thoảng đảo đều, lấy ra phơi trong bóng râm cho gần khô (cầm củ Hoàng tinh không dính tay). Tiếp tục lấy nước mật còn lại tẩm phơi cho đến hết. Sau đó đem đồ cách thủy, rồi phơi, làm như vậy 9 lần.
Phương pháp 3: Làm như phương pháp 2 nhưng thay nước mật bằng nước đỗ đen, cứ 1 kg Hoàng tinh dùng 1 kg đỗ đen. Đổ nước ngập đậu đen, đun sôi 2 h, gạn lấy nước bỏ bã (lượng nước đủ để đổ ngập hoàng tinh), cho nước đậu đen vào nồi đã xếp sẵn Hoàng tinh đã sơ chế rồi tiếp tục thực hiện các công đoạn như phương pháp 2 cho đến khi đạt yêu cầu.
Yêu cầu: Hoàng tinh sau khi chế biến như trên có màu đen ở bên ngoài, màu vàng hơi đỏ thẫm ở bên trong (nhưng nếu đen như củ Thục địa là bị hỏng), khi cầm không dính tay, mềm dẻo là đạt yêu cầu.
Phương pháp 4: Rửa sạch Hoàng tinh vừa thu hoạch, thái nhỏ rồi giã nát, ngâm với nước sạch 24 h, thỉnh thoảng quấy đều. Hôm sau quấy nhẹ, để lắng lại và gạn lấy nước, để lắng, lại thêm nước vào bã rồi lại làm như hôm trước, như vậy đủ 9 lần. Nước bột Hoàng tinh thu được như trên để lắng được thì gạn lấy bột phơi khô dùng làm thuốc.
Hoàng tinh phiến: Lấy Hoàng tinh đã chế biến, rửa sạch, ủ mềm, thái phiến dày, phơi hoặc sấy khô.
Hoàng tinh chế rượu (Tửu Hoàng tinh): Lấy Hoàng tinh đã chế biến, trộn đều với rượu vàng (hoàng tửu), cho vào thùng đậy nắp, đun trong cách thủy để dược liệu hút hết rượu, lấy ra, để hơi khô rồi cắt lát dày, phơi khô. Cứ 100 kg Hoàng tinh dùng 20 L rượu.

Bảo quản

Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô mát, tránh mốc, mọt.
Dược liệu đã chế biến: Để trong đồ đựng kín, nên dùng trong 60 ngày sau khi chế biến.

Tính vị, quy kinh

Sau khi chế biến có vị ngọt, tính bình. Vào các kinh tỳ, vị, phế, thận.

Công năng, chủ trị

Bổ tỳ kiện vị, nhuận phế, ích thận. Chủ trị: Tỳ vị hư nhược, mệt mỏi, ăn ngủ kém, miệng khô, phế ráo ho khan, nội nhiệt tinh huyết kém, tiêu khát.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng từ 8 g đến 16 g, có thể dùng đến 20 g theo yêu cầu của bài thuốc. Dùng thuốc sắc hoặc viên hoàn.

Kiêng kỵ

Bị cảm mạo lưu hành không dùng.

Ghi chú

2 loài khác đã được khai thác đưa vào sử dụng phổ biến như: Hoàng tinh cách/Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia Craib) và Hoàng tinh nhiều hoa (Polygonatum multiflorum (L.) All.).

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1379-1381, tải PDF tại đây.

THÔNG TIN TƯ VẤN