DÂU (Cành) - họ Dâu tằm (Moraceae) - Dược điển Việt Nam 6


DÂU (Cành)

21/05/2026
DÂU (Cành)

DÂU (Cành)

Mori albae Ramulus

Tang chi

Cành dâu loại bé được làm khô của cây Dâu tằm (Morus alba L.), họ Dâu tằm (Moraceae). Thu hoạch vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa thu, chọn các cành dâu nhỏ (có đường kính quy định), bỏ hết lá, phơi hoặc sấy khô. Cành dâu nhỏ và non gọi là Tang chỉ tiêm.

Mô tả

Cành hình trụ dài, đôi khi có nhánh, dài ngắn không đều nhau, đường kính 0,5 cm đến 1,5 cm. Mặt ngoài màu vàng xám hoặc vàng nâu, có nhiều lỗ vỏ màu nâu nhạt và các nếp vân dọc nhỏ, có những vết sẹo cuống lá gân hình bán nguyệt màu trắng xám và những chồi nách nhỏ màu nâu vàng. Chất cứng, dai, chắc, khó bẻ gãy, mặt gây có xơ, màu trắng ngà.

Vi phẫu

Lớp bần gồm một vài hàng tế bào đều đặn, gần hình chữ nhật, đôi khi có lỗ vỏ. Mô mềm vỏ tương đối mỏng, gồm khoảng 6 đến 8 hàng tế bào hình nhiều cạnh, hơi dẹt, có chứa các tỉnh thể calci oxalat hình khối. Các đám sợi hoặc mô cứng chỗ dày chỗ mỏng bao bọc gần như liên tục xung quanh vòng libe. Libe xếp thành vòng liên tục. Tầng phát sinh libe-gỗ. Gỗ xếp thành một vòng liên tục, mạch gỗ to, càng vào trong càng nhỏ dần. Mô mềm gỗ cấu tạo bởi những tế bào nhỏ, xếp đều đặn. Mô mềm ruột gồm các tế bào gần tròn, to, thành mỏng.

Bột

Màu vàng xám nhạt, mùi nhẹ, vị nhạt. Quan sát trên kính hiển vi thấy: Rất nhiều sợi màu vàng nhạt hoặc không màu, đơn lẻ hay tập trung thành bó, thành dày 5 µm đến 15 µm, khoang hẹp. Tế bào mô cứng màu vàng nhạt, hình gần tròn hoặc hình chữ nhật, đường kính 15 µm đến 40 µm, thành dày 5 µm đến 20 µm, khoang hẹp. Rải rác có các mảnh mô mềm. Tinh thể calci oxalat hình khối dài 5 µm đến 12 µm. Các mảnh mạch mạng, mạch điểm. Các mảnh bần màu vàng đậm, tế bào thành dày. Rải rác có các hạt tinh bột.

Định tính

A. Lấy 3 g bột dược liệu, thêm 10 ml ethanol 90% (TT), đun sôi, lọc. Dịch lọc có màu xanh lá cây. Lấy 1 ml dịch lọc, thêm 1 giọt dung dịch sắt (III) clorid 5% (TT), xuất hiện tủa màu nâu xám.

B. Lấy 5 g bột dược liệu, trộn đều với 3 ml amoniac (TT), thêm 30 ml cloroform (TT), lắc. Để yên trong 5 h, lọc. Dịch lọc cho vào bình gạn, thêm 5 ml dung dịch acid sulfuric 10% (TT), lắc, để yên cho dung dịch tách thành 2 lớp, gạn lấy 1 ml dịch chiết acid, thêm 1 giọt dung dịch acid picric (TT), xuất hiện tủa vàng nhạt.

Độ ẩm

Không quá 12,0% (Phụ lục 9.6, 1 g, 105 °C, 5 h).

Tạp chất

Không quá 1,0% (Phụ lục 12.11).

Chất chiết được trong dược liệu

Không ít hơn 3,0% tính theo dược liệu khô kiệt. Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10), dùng ethanol 96% (TT) làm dung môi.

Chế biến

Tang chi phiến: Lấy dược liệu khô, bỏ tạp chất, rửa sạch, tẩm nước, ủ mềm, thái phiến dày, dài 3 cm đến 4 cm, phơi khô, dùng sống.

Mô tả: Phiến dài 3 cm đến 4 cm, thấy phân rõ 3 phần: phần vỏ hơi mỏng, phần giữa là gỗ trắng ngà, phần tâm có tủy nhỏ và mềm màu trắng hoặc vàng nhạt, có hình tia. Hơi có mùi, vị nhạt.

Bột, Định tính, Độ ẩm, Chất chiết được: Yêu cầu và phương pháp thử như dược liệu chưa cắt đoạn.

Tang chỉ sao: Lấy Tang chi phiến, sao lửa nhỏ đến khi hơi vàng, có mùi thơm, lấy ra để nguội.

Bảo quản

Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô, tránh mốc mọt.

Dược liệu đã chế biến: Để nơi khô thoáng, tránh ẩm mốc, nên dùng trong 30 ngày sau khi chế biến.

Tính vị, quy kinh

Vị hơi đắng, tính bình. Vào kinh can.

Công năng, chủ trị

Khu phong lợi các khớp gối (quan tiết). Chủ trị: Bả vai, các khớp cánh tay và hai chân đau nhức mỏi, hoặc đau tê nửa người, thường phối hợp với Quế chi tiêm và Phòng phong.

Dùng sống trị đau nhức cánh tay và hai chân.

Tang chỉ sao trị phong hàn, phong thấp, viêm đa khớp.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng từ 6 g đến 12 g, dạng thuốc sắc, tán bột làm viên hoàn, liều lượng tùy theo bài thuốc.

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1310-1311, tải PDF tại đây 

THÔNG TIN TƯ VẤN