CÚC HOA VÀNG (Cụm hoa) họ Cúc - Dược điển Việt Nam 6


CÚC HOA VÀNG (Cụm hoa)

21/05/2026
CÚC HOA VÀNG (Cụm hoa)

CÚC HOA VÀNG (Cụm hoa)

Chrysanthemi indici Flos

Cam cúc, Kim cúc

Cụm hoa (quen gọi là hoa) đã chế biến và được làm khô của cây Cúc hoa vàng (Chrysanthemum indicum L.), họ Cúc (Asteraceae). Thu hái vào cuối mùa thu đến đầu mùa đông lúc hoa chớm nở, thu hái về phơi trong bóng râm đến khô hoặc sấy ở 40 °C đến 50 °C, đảo nhẹ nhàng, khi vừa có mùi thơm nhẹ bốc lên là phải bỏ ra ngay hoặc làm khô bằng phương pháp thích hợp để bảo quản được lâu.

Mô tả

Cụm hoa hình đầu, màu vàng hơi nâu, đôi khi còn đính cuống; đường kính 0,5 cm đến 1,2 cm. Tổng bao gồm 4 đến 5 hàng lá bắc, mặt ngoài màu xanh hơi xám hoặc nâu nhạt, ở giữa hai bên mép rất nhạt và khô xác. Có 2 loại hoa: Hoa hình lưỡi nhỏ một vòng, đơn tính, không đều ở phía ngoài; nhiều hoa hình ống, đều, mẫu năm, lưỡng tính ở phía trong. Chất nhẹ, mùi thơm, vị đắng.

Ghi chú: Cúc hoa vàng nhỏ như khuy áo có màu vàng nên gọi là Kim cúc, loại khô còn nguyên cả hoa, không lẫn tạp chất, có mùi thơm đặc biệt là loại tốt.

Bột

Bột hoa màu vàng, mùi thơm. Soi kính hiển vi thấy: Mảnh cánh hoa màu vàng gồm các tế bào thành mỏng nhăn nheo. Mảnh lá bắc gồm các tế bào dài thành mỏng và tế bào dài thành dày, có ống trao đổi rõ. Hạt phấn hoa hình cầu gai, màu vàng. Lông che chở bị gãy vụn. Mảnh núm nhụy gồm các tế bào đầu tròn, kết lớp lên nhau, ở đầu núm tế bào dài nhô ra.

Định tính

A. Lấy 3 g bột dược liệu, thêm 20 ml ethanol 96% (TT), đun sôi hồi lưu khoảng 30 min, lọc, được dịch lọc A. Lấy 2 ml dịch lọc A, thêm một ít bột magnesi (TT) và 3 giọt đến 4 giọt acid hydrocloric (TT), đun nóng, xuất hiện màu đỏ.

B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).

Bản mỏng: Silica gel G.

Dung môi khai triển: Ethyl acetat – acid formic – nước (8:1:1).

Dung dịch thử: Lấy 10 ml dịch lọc A, bốc hơi tới cắn, hòa tan cắn trong 20 ml nước nóng, lọc, dịch lọc được lắc 2 lần với ethyl acetat (TT), mỗi lần 10 ml, tập trung dịch chiết ethyl acetat, cô trên cách thủy tới cắn, hòa cắn trong 1 ml ethanol (TT) được dung dịch thử.

Dung dịch đối chiếu: Lấy 3 g bột Cúc hoa vàng (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử. 

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 µl mỗi dung dịch trên. Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được khoảng 15 cm, lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng, hiện màu bằng hơi amoniac (TT). Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết (6 vết, trong đó có 4 vết màu vàng nâu và 2 vết màu vàng xanh) tương đương về vị trí và cùng màu với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm

Không quá 13,0% (Phụ lục 12.13). Dùng 10 g dược liệu đã cắt nhỏ để thử.

Tro toàn phần

Không quá 9,0% (Phụ lục 9.8).

Tỷ lệ vụn nát

Qua rây có kích thước mắt rây 4 mm: Không quá 2,0% (Phụ lục 12.12).

Chất chiết được trong dược liệu

Không được ít hơn 30,0%, tỉnh theo dược liệu khô kiệt. Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10), dùng ethanol 50% (TT) làm dung môi.

Bảo quản

Để trong đồ đựng kín, tránh mất tinh dầu (mùi thơm), tránh mốc. Nên dùng trong vòng 20 ngày sau khi chế.

Tính vị, quy kinh

Vị đắng hơi cay, tính hơi hàn. Vào các kinh can, tâm, phế.

Công năng, chủ trị

Thanh nhiệt, giải độc, bình can, giáng hỏa. Chủ trị: Chóng mặt, đau đầu, đau mắt, chảy nước mắt, nhọt độc, sang lở.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng từ 6 g đến 12 g, dạng thuốc sắc.

Kiêng kỵ

Tỳ vị hư hàn, đại tiện lỏng không dùng.

Ghi chú

Cúc hoa trắng (Bạch cúc), loại hoa nhỏ như khuy áo, có màu trắng cũng được dùng để chữa bệnh và dùng để ướp trà.

Tài liệu tham khảo

Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1306-1307, tải PDF tại đây 

THÔNG TIN TƯ VẤN