CHỈ THỰC
CHỈ THỰC
Aurantii immaturus Fructus
Quả non bổ đôi được làm khô của cây Cam chua (Citrus aurantium L.) hoặc [Citrus sinensis (L.) Osbeck], họ Cam (Rutaceae). Thu hoạch vào tháng 3 đến tháng 4 hàng năm. Hái những quả bé bằng đầu ngón tay giữa, loại bỏ tạp chất, bổ đôi theo chiều ngang, phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ thấp.
Mô tả
Dược liệu hình bán cầu, một số có hình cầu, đường kính 0,5 cm đến 1,5 cm. Vỏ ngoài màu lục hoặc lục hơi đen với những nếp nhăn và những điểm lỗ hình hạt, có vết cuống quả hoặc vết sẹo của vòi nhụy. Trên mặt cắt, vỏ quả giữa hơi phồng lên, màu trắng vàng hoặc nâu vàng, dày 0,3 cm đến 1,2 cm, có 1 đến 2 hàng túi tinh dầu ở phần ngoài. Vỏ quả trong và múi quả màu nâu. Chất cứng. Mùi thơm mát, vị đắng, hơi chua.
Ghi chú: Quả non đã làm khô có màu xanh, vỏ dày bên trong đặc có nhiều cùi, ruột bé, không mốc mọt là loại tốt. Loại quả to, nhiều ruột, quả rụng xuống đất không nên dùng. Chỉ thực để lâu năm gọi là Trần chỉ thực là loại tốt nhất.
Bột
Bột màu vàng nhạt hoặc vàng nâu. Quan sát trên kính hiển vi thấy: Mảnh vỏ quả giữa tế bào hơi tròn hoặc có hình dạng bất thường, thành dày lên không đều. Mảnh biểu bì của vỏ quả ngoài tế bào hình nhiều cạnh, gần vuông hoặc chữ nhật, trên bề mặt biểu bì có lỗ khí hơi tròn, đường kính 18 µm đến 26 µm và có 5 đến 9 tế bào kèm. Nhiều mảnh mô của túi dầu màu vàng nâu, thường bị vỡ, đôi khi quan sát thấy các giọt dầu. Tinh thể calci oxalat hình lăng trụ, hình thoi, hình nón kép hoặc đa giác không đều, nằm riêng lẻ hoặc nằm trong tế bào vỏ quả và tế bào múi, đường kính 2 µm đến 24 µm. Rải rác có các mảnh mạch điểm, mạch xoắn, mạch vòng.
Định tính
A. Lấy 1 g bột dược liệu, thêm 25 ml methanol (TT), đun hồi lưu cách thủy trong 30 min, lọc lấy dịch lọc (dung dịch A) để làm các phản ứng sau:
Lấy 5 ml dung dịch A, thêm một ít bột magnesi (TT) và 0,5 ml acid hydrocloric (TT), xuất hiện màu đỏ cam đến đỏ tía.
Lấy 3 ml dung dịch A, thêm vài giọt dung dịch sắt (III) clorid 5% (TT), xuất hiện màu nâu.
Lấy 3 ml dung dịch A, thêm vài giọt dung dịch natri hydroxyd 1% (TT), màu vàng tăng lên, đôi khi kèm theo một ít tủa.
B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (định tính synephrine) (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: Ethyl acetat – methanol – amoniac (9:1:0,1).
Dung dịch thử: Lấy 5 g bột dược liệu, làm ẩm vừa đủ bằng amoniac (TT), thêm 30 ml ethyl acetat (TT), đun hồi lưu cách thủy trong 15 min. Lọc, lắc dịch lọc ethyl acetat với dung dịch acid hydrocloric 1% (TT) 2 lần, mỗi lần 10 ml. Gộp các dịch acid, kiềm hóa bằng amoniac (TT) đến pH 10, lắc với ethyl acetat (TT) 2 lần, mỗi lần 20 ml. Gộp các dịch chiết ethyl acetat, cô đến cắn và hòa cắn trong 1 ml methanol (TT) được dung dịch thử.
Dung dịch chất đối chiếu: Hòa tan synephrin chuẩn trong methanol (TT) để được dung dịch có nồng độ 0,3%.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, lấy bản mỏng ra, để khô trong không khí, phun thuốc thử ninhydrin 0,5% trong ethanol, sấy ở 105 °C trong 10 min đến 15 min.
Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết tương đương về vị trí và cùng màu sắc (đỏ tía) với vết synephrin trên sắc ký đồ của dung dịch chất đối chiếu.
C. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel GF 254
Dung môi khai triển:
Hệ 1: Ethyl acetat – methanol – nước (100:17:13).
Hệ 2: Toluen – ethyl acetat – acid formic – nước (20:10:1:1). Dung dịch thử. Dung dịch A lấy ở phần định tính bằng phản ứng hóa học.
Dung dịch chất đối chiếu: Dung dịch hesperidin chuẩn trong methanol (TT) (1 mg/ml), hòa tan bằng phương pháp đun hồi lưu.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 20 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký với hệ dung môi 1, lấy bản mỏng ra, để khô trong không khí. Tiếp tục triển khai sắc ký với hệ dung môi 2. Sau khi triển khai xong, lấy bản mỏng ra để khô ngoài không khí, phun lên bản mỏng dung dịch nhôm clorid 1% (TT). Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại tại bước sóng 366 nm. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết có tương đương về vị trí và cùng màu với vết hesperidin trên sắc ký đồ của dung dịch chất đối chiếu.
Độ ẩm
Không quá 15,0% (Phụ lục 12.13).
Tạp chất
Không quá 1,0% (Phụ lục 12.11).
Tro toàn phần
Không quá 7,0% (Phụ lục 9.8).
Định lượng
Cân chính xác khoảng 0,5 g bột dược liệu (qua rây có kích thước 1,25 mm), cho vào bình Soxhlet, thêm 100 ml ether dầu hỏa (30°C đến 60°C) (TT), đun hồi lưu cách thủy trong 1 h và loại bỏ dịch ether dầu hoả. Chuyển bã dược liệu đã được làm bay hơi hết ether dầu hỏa sang 1 bình nón 250 ml và chiết tiếp bằng cách đun hồi lưu trên cách thủy với methanol (TT) trong 30 min 3 lần, mỗi lần 50 ml. Gộp và bốc hơi dịch chiết trên cách thủy cho đến cắn. Thêm vào cắn 5 ml nước, khuấy và để yên 10 min, lọc qua phễu lọc xốp, tiếp tục rửa cắn bằng nước 4 lần, mỗi lần 5 ml và loại bỏ nước rửa. Hòa tan cắn trên phễu bằng những lượng nhỏ dung dịch natri hydroxyd 0,2% trong ethanol 70% (TT) cho đến khi dịch lọc không còn màu vàng. Gộp các dịch lọc và chỉnh đến thể tích vừa đủ 100 ml bằng dung dịch natri hydroxyd 0,2% trong ethanol 70% (TT) (dung dịch A). Lắc kỹ, lấy chính xác 2 ml dung dịch A, pha loãng thành 25,0 ml bằng dung dịch natri hydroxyd 0,2% trong ethanol 70% (TT). Lắc đều. Sau 1 h kể từ khi bắt đầu hòa tan cắn, đo độ hấp thụ (Phụ lục 4.1) ở bước sóng (361 ±1) nm. Tính hàm lượng hesperidin (C28H34O15) theo A (1%, 1 cm), lấy 160 là giá trị A (1%, 1 cm) của hesperidin ở 361 nm.
Hàm lượng hesperidin (C28H34O15) không được thấp hơn 5,0%, tính theo dược liệu khô kiệt.
Chế biến
Chỉ thực sao giòn: Lấy dược liệu khô, rửa sạch, ủ mềm, thái lát mỏng hoặc bào mỏng, sao lửa nhỏ đến khô giòn. Sao khô giòn có tác dụng tiêu tích.
Chỉ thực sao cám: Cho cám vào chảo đun nhỏ lửa đến khi cám ngả màu vàng, cho Chỉ thực đã thái lát mỏng vào đảo đều đến khi mùi thơm của Chỉ thực bốc lên là được, lấy ra loại bỏ cám và để nguội. Dùng 1 kg cám gạo cho 10 kg dược liệu. Chỉ thực sao với cám có tác dụng tiêu tích.
Chỉ thực sao cháy: Lấy Chỉ thực đã thái lát mỏng, sao cháy theo hướng dẫn tại Phụ lục 12.20. Chỉ thực sao cháy có tác dụng cầm máu, trị các vết loét trong tràng vị.
Bảo quản
Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô, tránh mốc mọt.
Dược liệu đã chế biến: Để trong đồ đựng kín, tránh mốc mọt, nên dùng trong 30 ngày sau khi chế biến.
Tính vị, quy kinh
Vị đắng, tính hàn. Vào các kinh tỳ và vị.
Công năng, chủ trị
Phá khí, giáng khí, tiêu tích, tiêu đờm, tiêu thực trừ bĩ báng. Chủ trị: Chứng tích trệ trong vị và tràng gây ăn uống không tiêu, chứng tả lỵ đi đại tiện mót rặn; đàm thấp trệ, trướng khí, ngực bụng kết hung; sa trực tràng, sa dạ dày, sa tử cung; ho nhiều đờm, đờm ngưng trệ ở ngực gây đầy tức khó thở.
Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng từ 3 g đến 6 g, có thể dùng đến 9 g, dạng thuốc sắc. Hoàn tán tùy theo bài thuốc.
Kiêng kỵ
Tỳ vị hư hàn mà không đầy tích thì không được dùng. Phụ nữ có thai không dùng.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1283-184, tải PDF tại đây
