Cam thảo (Rễ và thân rễ) (Glycyrrhizae Radix et Rhizoma) - Dược Điển Việt Nam 6


Cam thảo (Rễ và thân rễ)

19/05/2026
CAM THẢO (Rễ và thân rễ)

Glycyrrhizae Radix et Rhizoma

Rễ và thân rễ còn vỏ hoặc đã cạo lớp bần được làm khô của ba loài Cam thảo Glycyrrhiza uralensis Fisch., Glycyrrhiza inflata Bat. hoặc Glycyrrhiza glabra L., họ Đậu (Fabaceae). Sau khi đào lấy rễ, xếp thành đống để cho lên men làm cho rễ có màu vàng sẫm hơn, phơi hoặc sấy khô.

Mô tả

Glycyrrhiza uralensis: Đoạn rễ hình trụ, thẳng hay hơi cong queo, thường dài 20 cm đến 100 cm, đường kính 0,6 cm đến 3,5 cm. Lớp bần ngoài cùng bị cạo bỏ hoặc dính chặt. Rễ chưa cạo lớp bần bên ngoài có màu nâu đỏ hoặc nâu xám có các vết sẹo của rễ con, những vết nhăn dọc và các lỗ vỏ nhô lên. Rễ đã cạo lớp bần có màu vàng nhạt. Chất cứng chắc, khó bẻ gãy, vết bẻ màu vàng nhạt có nhiều xơ dọc, có tinh bột. Mặt cắt ngang có nhiều tia ruột từ trung tâm tỏa ra, trông giống như nan hoa bánh xe, đôi khi có khe nứt, tầng phát sinh libe-gỗ thành vòng rõ. Đoạn thân rễ hình trụ, bên ngoài có các núm sẹo, tủy ở trung tâm mặt cắt ngang. Mùi thơm đặc biệt, vị ngọt hơi khé cổ.

Glycyrrhiza inflata: Đoạn rễ và thân rễ hóa gỗ, chất cứng chắc, đôi khi phân nhánh, mặt ngoài thô ráp và có màu nâu xám. Mặt bẻ có nhiều sợi hóa gỗ thành đám, ít tinh bột. Thân rễ mang nhiều chồi bất định lớn.

Glycyrrhiza glabra: Rễ và thân rễ chất tương đối chắc, đôi khi phân nhánh, mặt ngoài không thô ráp, hầu hết có màu nâu xám, lỗ vỏ nhỏ, không rõ.

Ghi chú: Rễ loại to, ngoài có màu nâu hồng, trong có màu vàng, có mùi thơm đặc biệt, nhiều tinh bột, ít xơ là loại tốt.

Vi phẫu

Lớp bần dày gồm các tế bào hình chữ nhật. Mô mềm vỏ có chứa nhiều hạt tinh bột. Tia ruột có 3 đến 5 hàng tế bào loe rộng thành hình phễu trong vùng libe. Libe hình nón chứa các đám sợi thành dày và tinh thể calci oxalat. Gỗ gồm mạch gỗ to, sợi gỗ và mô mềm gỗ ít hóa gỗ. Trong có tủy nhỏ.

Bột

Màu vàng nhạt đến màu vàng nâu. Soi kính hiển vi thấy các mảnh mô mềm với tế bào có thành mỏng chứa nhiều hạt tinh bột. Hạt tinh bột đứng riêng rẽ, hình trứng hay hình cầu có đường kính 2 µm đến 20 µm. Sợi gỗ màu vàng, có thành dày, thường kèm theo tế bào có tinh thể calci oxalat hình lăng trụ. Mảnh mạch điểm màu vàng, mảnh bần màu nâu đỏ.

Định tính

A. Nhỏ dung dịch amoniac (TT) lên bột dược liệu sẽ có màu vàng tươi, thêm dung dịch acid sulfuric 80% (TT) sẽ mất màu vàng tươi.

B. Lấy 0,5 g bột Cam thảo, thêm 50 ml ethanol 70% (TT), đun nóng trên cách thủy trong 15 min. Lọc nóng qua bông, lấy dịch lọc để làm các phản ứng sau:

Lấy 10 ml dịch lọc vào một chén sứ, cô trên cách thủy đến khô. Thêm vào cắn 1 ml anhydrid acetic (TT) và 1 ml cloroform (TT), khuấy kỹ, lọc lấy phần dung dịch trong, cho vào một ống nghiệm khô. Thêm từ từ theo thành ống nghiệm khoảng 1 ml acid sulfuric (TT). Giữa 2 lớp chất lỏng có vòng ngăn cách màu nâu đỏ, lớp dung dịch phía trên có màu vàng nâu sẫm. Lấy 2 ml đến 3 ml dịch lọc cho vào một ống nghiệm, thêm một ít bột magnesi (TT) và 0,5 ml acid hydrocloric (TT), sẽ xuất hiện màu đỏ sẫm.

C. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).

Bản mỏng: Silica gel G.

Dung môi khai triển: Ethyl acetat – acid formic – acid acetic băng – nước (15 : 1 : 1 : 2). 

Dung dịch thử: Lấy khoảng 0,5 g bột dược liệu, thêm 20 ml ether ethylic (TT), đun hồi lưu trên cách thủy 1 h, gạn bỏ dịch ether. Thêm vào bã 15 ml methanol (TT), đun hồi lưu trên cách thủy 1 h, để nguội, lọc lấy dịch chiết. Bốc hơi dịch chiết đến cắn, hòa tan cắn trong 20 ml nước. Lắc dung dịch thu được với n-butanol 3 lần, mỗi lần 20 ml. Gộp dịch chiết butanol, rửa 3 lần với nước, bỏ nước rửa. Bay hơi dịch chiết butanol trên cách thủy tới cắn, hòa tan cắn trong 5 ml methanol (TT) được dung dịch thử.

Dung dịch dược liệu đối chiếu: Lấy 0,5 g bột Cam thảo (mẫu chuẩn) chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.

Dung dịch chất đối chiếu: Hòa tan amoni glycyrrhizinat chuẩn trong methanol (TT) để được dung dịch có nồng độ khoảng 2 mg/ml.

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi khai triển xong, lấy bản mỏng ra để khô ngoài không khí, phun dung dịch acid sulfuric 10% trong ethanol (TT), sấy bản mỏng ở 105 °C trong 5 min. Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm.

Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết phát quang cùng màu và tương đương về vị trí với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu và phải có một vết phát quang cùng màu và tương đương về vị trí với vết của amoni glycyrrhizinat trên sắc ký đồ của dung dịch chất đối chiếu.

Độ ẩm

Không quá 12,0% (Phụ lục 9.6, 1 g, 105 °C, 5 h).

Tro toàn phần (Phụ lục 9.8)

Không quá 6,0% đối với rễ đã cạo lớp bần;

Không quá 10,0% đối với rễ không cạo lớp bần.

Tro không tan trong acid

Không quá 2,5% (Phụ lục 9.7).

Tạp chất

Không quá 1,0% (Phụ lục 12.11).

Định lượng

Phương pháp sắc ký lỏng (Phụ lục 5.3).

Pha động: Acetonitril – dung dịch acid phosphoric 0,05% (38:62)

Dung dịch thử: Cân chính xác khoảng 0,2 g bột dược liệu (qua rây số 355) vào bình nón có nút mài, thêm chính xác 100 ml ethanol 70% (TT), đậy nút, cân, sau đó siêu âm 30 min, để nguội, cân lại và bổ sung ethanol 70% (TT) để được khối lượng ban đầu. Trộn đều và lọc qua màng lọc 0,45 μm.

Dung dịch chuẩn: Hòa tan amoni glycyrrhizinat chuẩn trong ethanol 70% (TT) để được dung dịch có nồng độ chính xác khoảng 0,2 mg/ml.

Điều kiện sắc ký:

Cột kích thước (25 cm × 4 mm) nhồi pha tĩnh C (5 µm). Detector quang phổ tử ngoại đặt tại bước sóng 254 nm.

Thể tích tiêm: 10 μl.

Tốc độ dòng: 1,5 ml/min.

Cách tiến hành:

Kiểm tra tính phù hợp của hệ thống: Tiến hành sắc ký với dung dịch chuẩn, tính số đĩa lý thuyết của cột. Số đĩa lý thuyết của cột không được nhỏ hơn 5000 tính theo pic của amoni glycyrrhizinat. Độ lệch chuẩn tương đối của diện tích pic amoni glycyrrhizinat trong 6 lần tiêm lặp lại không được lớn hơn 2,0%.

Tiến hành sắc ký với dung dịch chuẩn, dung dịch thử. Tính hàm lượng acid glycyrrhizic trong dược liệu dựa vào diện tích pic amoni glycyrrhizinat trên sắc ký đồ của dung dịch chuẩn, dung dịch thử và nồng độ dung dịch chuẩn (khối lượng của acid glycyrrhizic = khối lượng amoni glycyrrhizinat/1,0207).

Dược liệu phải chứa không ít hơn 2,0% acid glycyrrhizic (C42H62O16), tính theo dược liệu khô kiệt.

Chế biến

Cam thảo thái lát (Sinh cam thảo): Lấy Cam thảo chưa thái lát, rửa sạch trong thời gian ngắn (rửa nhanh, nếu rửa lâu giảm tác dụng), thái phiến mỏng (thái bằng máy); nếu không có máy thì đồ mềm, thái lát mỏng 2 mm khi cam thảo còn nóng hoặc trước khi thái cầm Cam thảo nhúng vào nước sạch rồi thái, phơi khô.

Cam thảo sao: Lấy Cam thảo đã thái lát, sao vàng theo hướng dẫn tại Phụ lục 12.20 đến có mùi thơm để tăng tính ôn.

Chích cam thảo (Tẩm Mật ong sao): Cứ 1 kg Cam thảo dùng 150 ml Mật ong pha với 150 ml nước đã đun sôi, trộn đều với Cam thảo đã thái lát, sao vàng đến có mùi thơm.

Bảo quản

Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô, mát, tránh mốc mọt. Dược liệu đã chế biến: Để trong đồ đựng kín, để nơi khô ráo, thuốc dễ mốc mọt, nên dùng trong 30 ngày sau khi chế biến.

Tính vị, quy kinh

Vị ngọt, tính bình. Vào cả 12 kinh lạc.

Công năng, chủ trị

Bổ tỳ nhuận phế, ích tinh điều hòa các vị thuốc. Chủ trị: Tỳ vị hư nhược, mệt mỏi yếu sức, tim hồi hộp, đoản hơi, ho nhiều đờm, đau vùng thượng vị, giải độc một số vị thuốc, làm mạnh một số vị thuốc khác.

Sinh cam thảo: Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, điều hòa các vị thuốc, tiêu khát, trị ho, viêm họng.

Cam thảo sao: Tăng tính ôn để điều trị các chứng ho hàn, có tác dụng bổ tỳ, kiện vị do tỳ vị hư hàn, ỉa chảy.

Chích cam thảo: Có tác dụng nhuận bổ tỳ, phế. Trị chứng ho khan không đờm; tỳ vị nhiệt ăn uống hấp thu kém.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng từ 4 g đến 6 g, trường hợp đặc biệt có thể dùng đến 12 g, dạng thuốc sắc hoặc bột.

Kiêng kỵ

Tỳ vị thấp trệ, ngực bụng đầy tức không dùng. Cam thảo kỵ với cam toại cấm dùng.

Ghi chú

Tránh nhầm Cam thảo với rễ Thổ cam thảo (cây ở Cao Bằng) có vị ít ngọt, có mùi lợm.

Tài liệu tham khảo

1. Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1265-1267, tải PDF tại đây.

THÔNG TIN TƯ VẤN