TẬP 1
- Lịch sử Dược điển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Hội đồng Dược điển Việt Nam VI
- Các cộng tác viên
- Các cơ quan và đơn vị tham gia xây dựng Dược điển Việt Nam VI
- Danh mục các chuyên luận mới so với DĐVN V
- Danh mục các chuyên luận DĐVN V có sửa đổi bổ sung
- Quy định chung
- Ký hiệu các chữ viết tắt
- Chuyên luận: Nguyên liệu hóa dược và thành phẩm hóa dược (Vần A đến H)
- Bảng tra cứu tên tiếng Anh, mã số định danh của các nguyên liệu hóa dược trong Dược điển Việt Nam VI (Vần A đến H)
- Mục lục tra cứu theo tên Việt Nam
BỒ CÔNG ANH
BỒ CÔNG ANH
Lactucae indicae Herba
Cây Mũi mác, Diếp trời, Diếp dại
Thân mang lá được làm khô của cây Bồ công anh (Lactuca indica L.), họ Cúc (Asteraceae). Thu hái vào mùa hạ lúc cây bắt đầu ra hoa. Cắt lấy thân mang lá, rửa sạch, phơi âm can hoặc sấy nhẹ đến khô.
Mô tả
Lá mỏng nhăn nheo, cuộn lại; lá nguyên nhiều hình dạng, thường có lá hình mũi mác, gần như không có cuống, mặt trên màu nâu sẫm, mặt dưới màu nâu nhạt, mép lá khía răng cưa, to nhỏ không đều. Có lá chỉ có răng cưa thưa hay gần như nguyên. Gân giữa to và nổi nhiều. Vị hơi đắng. Đoạn thân, cành, tròn, thăng, lõi xốp, đường kính khoảng 0,2 cm, mặt ngoài màu nâu nhạt, lốm đốm, có mấu mang lá hoặc vết tích của cuống lá.
Vi phẫu
Gân giữa của lá: Mặt trên phẳng, mặt dưới lồi, hình chữ V. Biểu bì trên và dưới gồm một lớp tế bào xếp đều đặn. Lớp mô dày tương đối mỏng xếp sát biểu bì. Mô mềm cấu tạo bởi những tế bào tròn hoặc nhiều cạnh, thành mỏng xếp sít nhau. Ở giữa gân lá có một khuyết to rỗng. Các bó libe-gỗ kích thước không đều, xếp rời nhau, xen kẽ bó to và bó nhỏ theo hình chữ V, bó to nhất ở dưới. Mỗi bó libe-gỗ được bao phủ bởi 2 cung mô dày úp vào nhau. Bó libe-gỗ có libe ở phía dưới và phía ngoài, gỗ ở phía trên và phía trong.
Phiến lá: Biểu bì trên và dưới gồm một lớp tế bào đều đặn không có lông. Biểu bì dưới mang lỗ khí. Mô giậu gồm 2 hàng tế bào xếp đều đặn. Mô khuyết gồm những tế bào không đều nhau để hở những khoảng trống nhỏ. Thịt lá dị thể không đối xứng.
Thân: Biểu bì gồm một lớp tế bào nhỏ xếp đều đặn. Mô dày gồm 2 đến 4 lớp tế bào có kích thước nhỏ thành dày. Mô mềm vỏ gồm những tế bào thành mỏng xếp lộn xộn. Các bó libe-gỗ xếp thành vòng tròn trong đó libe tạo thành từng đám, gỗ tạo thành vòng liên tục. Ở những phần tương ứng với libe, các mạch gỗ phát triển thành hàng tạo thành các bó libe-gỗ. Các bó libe-gỗ phát triển mạnh ở những chỗ thân lồi ra.
Bột
Lá: Mảnh biểu bì trên của lá gồm những tế bào thành mỏng, ít ngoằn ngoèo. Mảnh biểu bì dưới gồm những tế bào thành mỏng ngoằn ngoèo, mang lỗ khí. Lỗ khí thường có 3 đến 4 tế bào phụ. Mảnh mô mềm gân giữa gồm những tế bào hình tròn thành mỏng xếp đều đặn. Mảnh mô mềm phiến lá gồm những tế bào thành mỏng chứa diệp lục, có mạch xoắn xếp thành từng dãy.
Định tính
Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm, bột dược liệu phát quang màu xanh.
Độ ẩm
Không quá 12,0% (Phụ lục 9.6, 1 g, 105 °C, 4 h).
Tro toàn phần
Không quá 9,0% (Phụ lục 9.8).
Tạp chất
Không quá 1,0% (Phụ lục 12.11).
Kim loại nặng
Không quá 20 phần triệu. Tiến hành như sau:
Dung dịch thử: Lấy 1,5 g bột dược liệu vào 1 chén bằng sứ hoặc thạch anh, có nắp đậy, đốt dần dần để than hóa hoàn toàn. Để nguội, thêm 1 ml hỗn hợp (pha trước khi dùng) gồm 1 thể tích acid nitric (TT) và 3 thể tích acid hydrocloric (TT), bốc hơi tới khô trên cách thủy. Làm ẩm cắn bằng 3 giọt acid hydrocloric (TT), thêm 10 ml nước nóng và làm ẩm trong 2 min. Sau đó thêm 1 giọt dung dịch phenolphtalein (TT), thêm từng giọt amoniac đậm đặc (TT) cho đến khi dung dịch xuất hiện màu đỏ nhạt, thêm 2 ml acid acetic loãng (TT), lọc nếu cần, rửa phễu và cắn bằng 10 ml nước. Chuyển dịch lọc và dịch rửa vào ống thử Nessler, thêm nước vừa đủ 50 ml.
Dung dịch đối chiếu: Bốc hơi đến khô 1 ml hỗn hợp (pha trước khi dùng) gồm 1 thể tích acid nitric (TT) và 3 thể tích acid hydrocloric (TT). Sau đó tiến hành như chỉ dẫn với dung dịch thử, sau đó thêm 3,0 ml dung dịch chì mẫu 10 phần triệu Pb (TT) và thêm nước vừa đủ 50 ml.
Cách tiến hành: Thêm 1 giọt dung dịch natri sulfid (TT) vào dung dịch thử và dung dịch đối chiếu, lắc mạnh, để yên 5 min. So sánh màu của 2 ống nghiệm bằng cách nhìn dọc ống hoặc quan sát trên nền trắng. Dung dịch thử không được đậm màu hơn dung dịch đối chiếu.
Chế biến
Bồ công anh cắt khúc: Lấy dược liệu khô, rửa sạch, thái khúc từ 2 cm đến 3 cm, phơi khô dùng dạng thuốc sắc hoặc nấu thành cao đặc (1 ml cao tương đương 10 g dược liệu).
Mô tả: Đoạn thân, cành, dài 2 cm đến 3 cm, tròn, thẳng, lõi xốp, đường kính khoảng 0,2 cm, mặt ngoài màu nâu nhạt, lốm đốm, có mấu mang lá hoặc vết tích của cuống lá. Các đoạn phiến lá mặt trên màu nâu sẫm, mặt dưới màu nâu nhạt, mép lá khía răng cưa, to nhỏ không đều hoặc chỉ có răng cưa thưa hay gần như nguyên. Gân giữa to và nhô lên. Vị hơi đắng.
Bột, Định tỉnh, Độ ẩm, Tro toàn phần, Tạp chất, Kim loại nặng: Yêu cầu và phương pháp thử như Dược liệu chưa chế biến.
Bảo quản
Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô, thường xuyên phơi lại, tránh mốc, mục.
Dược liệu đã chế biến: Để nơi khô ráo, nên dùng trong 30 ngày sau khi chế biến.
Tính vị, quy kinh
Vị đắng hơi ngọt, tính hàn. Vào các kinh can, vị, đại tràng.
Công năng, chủ trị
Giải nhiệt độc ủng tắc, tán kết, tán khí trệ, tiêu viêm. Chủ trị: Tắc tia sữa vú sưng đau, nhọt độc, đau vùng mạng sườn do can khí uất, đau vùng thượng vị do viêm hang vị dạ dày, nhọt độc, tiểu tiện buốt.
Cách dùng, liều lượng
Dược liệu khô: Ngày dùng từ 12 g đến 30 g thuốc sắc; cao thuốc ngày dùng 3 ml đến 10 ml.
Dược liệu tươi: Rửa sạch, giã nhuyễn cùng một chút muối, đắp vào mụn nhọt, lượng thích hợp hoặc giã nhỏ, thêm một ít nước đun sôi để nguội, vắt lấy nước uống.
Kiêng kỵ
Không có khí trệ, không sưng nóng không dùng.
Ghi chú
Các cây Taraxacum Taraxacum mongolicum, borealisinense, Taraxacum officinale {còn gọi là Bồ công anh thấp (lùn)} cũng được dùng như vị thuốc Bồ công anh.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1255-1256, tải PDF tại đây
