TẬP 1
- Lịch sử Dược điển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Hội đồng Dược điển Việt Nam VI
- Các cộng tác viên
- Các cơ quan và đơn vị tham gia xây dựng Dược điển Việt Nam VI
- Danh mục các chuyên luận mới so với DĐVN V
- Danh mục các chuyên luận DĐVN V có sửa đổi bổ sung
- Quy định chung
- Ký hiệu các chữ viết tắt
- Chuyên luận: Nguyên liệu hóa dược và thành phẩm hóa dược (Vần A đến H)
- Bảng tra cứu tên tiếng Anh, mã số định danh của các nguyên liệu hóa dược trong Dược điển Việt Nam VI (Vần A đến H)
- Mục lục tra cứu theo tên Việt Nam
BẠCH ĐẬU KHẤU (Quả)
BẠCH ĐẬU KHẤU (Quả)
Amomi Fructus Rotundus
Quả gần chín được làm khô của cây Bạch đậu khấu (Amomum testaceum Ridl., syn. Amomum krervanh Pierre ex Gagnep.; hoặc Amomum compactum Soland. ex Maton), họ Gừng (Zingiberaceae). Hái quả khi có màu lục, bỏ cuống, phơi hoặc sấy nhẹ đến khô.
Mô tả
Quả hình cầu tròn hơi dẹt, có 3 múi, đường kính 1 cm đến 1,5 cm. Mặt ngoài vỏ màu trắng ngà, có một số đường vân dọc, đôi khi còn sót cuống quả. Vỏ quả khô dễ tách. Mỗi quả có 20 hạt đến 30 hạt, gọi là khấu mễ hoặc khấu nhân, tập hợp thành khối hình cầu gọi là khấu cầu. Khấu cầu chia làm 3 múi có thành mỏng màu trắng ngăn cách, mỗi múi có 7 hạt đến 10 hạt. Hình dạng hạt không đồng nhất, phần nhiều là hình khối nhiều mặt không đều, đường kính khoảng 3 mm, mặt ngoài màu nâu nhạt đến nâu thẫm, có vân nhỏ, chất cứng. Mặt cắt ngang màu trắng. Hạt chứa nhiều tinh dầu. Mùi thơm, vị cay.
Ghi chú: Quả loại khô và chắc, bên ngoài có màu thẫm, bên trong có hạt cứng chắc (giống Sa nhân), có mùi thơm là loại tốt.
Vi phẫu (Hạt)
Biểu bì vỏ hạt gồm một lớp tế bào hình chữ nhật, có thành hơi dày. đặc biệt ở phía ngoài. Hạ bì một lớp tế bào chứa sắc tố màu đỏ nâu. Tế bào chứa tinh dầu xếp thành một lớp kích thước lớn, hình gần vuông. Lớp sắc tố chứa một vài hàng tế bào màu nâu. Vỏ trong chứa một lớp tế bào mô cứng với thành bên và thành trong dày lên nhiều.
Bột (Hạt)
Bột màu nâu xám đến nâu. Quan sát trên kính hiển vi thấy: Mảnh biểu bì vỏ hạt có màu vàng nhạt, tế bào hình chữ nhật. Các tế bào chứa sắc tố màu đỏ sẫm, teo lại. Tế bào dầu hình tròn hoặc hơi thuôn dài. Các mảnh nội nhũ chứa các hạt tinh bột nhỏ, có đường kính từ 3 µm đến 6 µm.
Tinh thể calci oxalat hình kim hoặc hình khối.
Độ ẩm
Không quá 12,0 % (Phụ lục 12.13).
Tạp chất (Phụ lục 12.1)
Tỷ lệ quả non, lép: Không quá 10,0 %.
Tạp chất khác: Không quá 3,0 %.
Định lượng
Tiến hành theo phương pháp định lượng tinh dầu trong dược liệu (Phụ lục 12.7), dùng 20 g bột thô dược liệu và 500 ml nước, cất trong 4 h.
Dược liệu phải chứa ít nhất 4,0 % tinh dầu, tính theo dược liệu khô kiệt.
Chế biến
Nhục đậu khấu: Lấy dược liệu khô, bỏ vỏ lấy nhân (Nhục đậu khấu), thái nhỏ hoặc giã nát dùng; có trường hợp chỉ dùng vỏ, có trường hợp dùng cả vỏ và nhân.
Bảo quản
Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô, mát, tránh mốc mọt.
Dược liệu đã chế biến: Để trong đồ đựng kín, nơi khô ráo, tránh ẩm mốc và mất vị thơm, nên dùng trong 30 ngày sau khi chế biến.
Tính vị, quy kinh
Vị cay, mùi thơm, tính ôn. Vào các kinh phế, tỳ, vị.
Công năng, chủ trị
Hành khí hóa thấp, tiêu thực, khoan trung, ấm tỳ vị. Chủ trị: Chứng phản vị (ăn vào nôn ra hoặc ợ ra thức ăn), đau vùng thượng vị, đầy hơi, ợ hơi do hàn tà ngưng trệ sinh ra, ăn không tiêu, ngược tật (sốt rét rừng).
Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng từ 4 g đến 6 g, có thể dùng 8 g dạng thuốc sắc (cho vào thuốc sắc sau khi sắc gần xong); tán bột dùng làm viên hoàn tùy theo chỉ định của bài thuốc.
Kiêng kỵ
Phế vị nhiệt do hỏa uất cấm dùng.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1238-1239, tải PDF tại đây
