Bạch chỉ (rễ)
BẠCH CHỈ (RỄ)
Angelicae dahuricae Radix
Rễ (còn gọi là củ) được làm khô của cây Bạch chỉ [Angelica dahurica (Fisch. ex Hoffm.) Benth. et Hook. Ex Franch. et Sav., đồng danh: Callisace dahurica Fisch. ex Hoffm.], họ Hoa tán (Apiaceae). Thu hoạch vào mùa hè hoặc mùa thu khi lá cây chuyển sang vàng, lấy củ ở cây trồng được khoảng 1 năm tuổi. Đào xung quanh gốc, nhổ cả khóm lên, không làm xây xát củ, giũ sạch đất cát, cắt bỏ phần thân (sát gốc) và các rễ con, rửa nhanh cho sạch, hong cho ráo nước, sau đem phơi hoặc sấy nhẹ (50 – 60 °C) cho đến khô.
Mô tả
Rễ (củ) hình chùy, thẳng hay cong, dài 10 cm đến 20 cm, đường kính phần to có thể đến 3 cm, phần cuối thon nhỏ dần. Mặt ngoài củ có màu vàng nâu nhạt, còn dấu vết của rễ con đã cắt bỏ, có nhiều vết nhăn dọc và nhiều lỗ vỏ lồi lên thành những vết sần ngang. Mặt cắt ngang có màu trắng hay trắng ngà, tầng sinh libe-gỗ rõ rệt. Thể chất cứng, vết bẻ lởm chởm, nhiều bột. Mùi thơm hắc, vị cay hơi đắng.
Ghi chú: Rễ (củ) to có hình dùi tròn, có từng vành, phía cuối có từng nhánh cứng, vỏ có màu vàng nâu nhạt, bên trong có màu trắng ngà, có từng đường thớ dọc, có mùi thơm cay, khô, không mốc mọt là loại tốt.
Bột
Bột dược liệu bạch chỉ thu hái từ cây trồng ở Việt Nam thường có màu trắng hay trắng ngà, mùi thơm hắc, vị đắng. Bột dược liệu nhập khẩu có màu vàng nâu. Quan sát trên kính hiển vi thấy: Mảnh bần màu vàng nâu gồm các tế bào thành dày, hình đa giác hoặc gần hình chữ nhật. Mảnh mô mềm chứa nhiều hạt tinh bột; hạt đơn hình cầu, đa giác hoặc hình elip, đường kính 3 μm đến 25 μm, rốn hình chữ Y, hình hoa thị hoặc hình V; các hạt kép thường gồm 2 đến 12 hạt đơn. Mảnh mạch mạng, mạch vạch. Ống tiết phần lớn bị vỡ và có khối màu vàng, vàng sậm.
Định tính
A. Lấy 5 g bột dược liệu, thêm 50 ml ethanol (TT), lắc đều, đun trên cách thủy 5 min, lọc. Cô dịch lọc trên cách thủy còn khoảng 10 ml (dung dịch A). Lấy 1 ml dung dịch A cho vào một ống nghiệm, thêm 1 ml dung dịch natri carbonat 10 % (TT) hay dung dịch natri hydroxyd 10 % (TT) và 3 ml nước cất, đun trong cách thủy 3 min, để thật nguội, cho từ từ từng giọt thuốc thử Diazo (TT), lắc đều, để yên sau 20 min sẽ xuất hiện màu đỏ cam.
B. Lấy 0,5 g bột dược liệu, thêm 3 ml nước, lắc đều trong 3 min, lọc. Nhỏ 2 giọt dịch lọc vào 1 tờ giấy lọc, để khô, quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm thấy có huỳnh quang màu xanh da trời.
C. Cho 0,5 g bột dược liệu vào ống nghiệm, thêm 3 ml ether (TT), lắc 5 min, để yên 20 min. Lấy 1 ml dịch chiết ether, thêm 2 giọt đến 3 giọt dung dịch hydroxylamin hydroclorid 7 % trong methanol (TT) và thêm 3 giọt dung dịch kali hydroxyd 20 % trong methanol (TT). Lắc kỹ, đun nhẹ trên cách thủy, để nguội, điều chỉnh pH tới 3 đến 4 bằng dung dịch acid hydrocloric loãng (TT), sau đó thêm 1 giọt đến 2 giọt dung dịch sắt (III) clorid 1 % trong ethanol (TT), đun nóng nhẹ 5 min sẽ xuất hiện màu đỏ tím.
D. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: Ether dầu hỏa (30 °C đến 60 °C) – ether (3:2).
Dung dịch thử: Lấy khoảng 0,5 g bột dược liệu, thêm 10 ml ether (TT), ngâm trong 1 h và thỉnh thoảng lắc, lọc, để bay hơi dịch lọc ở nhiệt độ phòng đến khô, hòa tan cắn trong 1 ml ethyl acetat (TT).
Dung dịch chất đối chiếu: Hòa tan imperatorin chuẩn và isoimperatorin chuẩn trong ethyl acetat (TT) để tạo ra hỗn hợp chứa 1 mg/ml mỗi chất.
Dung dịch dược liệu đối chiếu: Nếu không có chất đối chiếu nêu trên, lấy 0,5 g bột Bạch chỉ (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử.
Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 4 µl mỗi dung dịch trên. Triển khai sắc ký ở điều kiện nhiệt độ dưới 25 °C, lấy bản mỏng ra để khô ở nhiệt độ phòng. Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết phát huỳnh quang cùng màu sắc và tương đương về vị trí với vết trên sắc ký đồ của dung dịch chất đối chiếu hoặc trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết phát huỳnh quang cùng màu sắc và tương đương về vị trí với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.
Độ ẩm
Không quá 14,0 % (Phụ lục 12.13), Dùng 10,00 g dược liệu đã nghiền nhỏ.
Tro toàn phần
Không quá 6,0 % (Phụ lục 9.8).
Tro không tan trong acid hydrocloric
Không quá 2,0 % (Phụ lục 9.7).
Kim loại nặng
Không được quá 10 phần triệu (Phụ lục 9.4.8, phương pháp 3).
Dùng 1 g bột dược liệu và 1 ml dung dịch chì mẫu 10 phần triệu Pb (TT) để chuẩn bị mẫu đối chiếu.
Arsen
Không quá 5 phần triệu.
Lấy 0,4 g bột dược liệu vào một chén bằng sứ hoặc thạch anh có nắp đậy, thêm 10 ml dung dịch magnesi nitrat hexahydrat (TT) 2 % trong ethanol 96 % (TT), đốt cho hết ethanol, nung nóng từ từ cho đến khi than hóa, nếu chưa than hóa hoàn toàn thì làm ẩm cắn bằng một lượng nhỏ acid nitric (TT), tiếp tục nung tương tự như trên cho đến khi than hóa hoàn toàn. Để nguội, thêm 3 ml acid hydrocloric (TT), hòa tan cắn bằng cách đun nóng trên cách thủy. Lấy dung dịch này tiếp tục tiến hành thử theo phương pháp A, Phụ lục 9.4.2, dùng 2 ml dung dịch arsen mẫu 1 phần triệu As (TT).
Tạp chất
Không quá 1,0 % (Phụ lục 12.11).
Chất chiết được trong dược liệu
Không được ít hơn 13,0 %, tính theo dược liệu khô kiệt.
Tiến hành theo phương pháp chiết nóng (Phụ lục 12.10).
Dùng ethanol 50 % (TT) làm dung môi
Định lượng
Phương pháp sắc ký lỏng (Phụ lục 5.3),
Pha động: Methanol – nước (55 : 45)
Dung dịch chuẩn: Cân chính xác một lượng imperatorin chuẩn và hòa tan trong methanol (TT) để được dung dịch chuẩn có nồng độ 10 µg/ml
Dung dịch thử: Cân chính xác khoảng 0,4 g bột dược liệu (qua rây số 355) vào bình định mức 50 ml, thêm 45 ml methanol (TT), siêu âm 1 h (300 W, 50 kHz), để nguội, thêm methanol (TT) vừa đủ đến vạch, trộn đều, lọc qua màng lọc 0,45 µm được dung dịch thử.
Điều kiện sắc ký:
Cột kích thước (25 cm x 4,6 mm) được nhồi pha tĩnh C (5 μm),
Detector quang phổ tử ngoại đặt ở bước sóng 300 nm.
Tốc độ dòng: 1 ml/min đến 2 ml/min.
Thể tích tiêm: 20µl.
Cách tiến hành
Kiểm tra tính phù hợp của hệ thống: Trên sắc ký đồ của dung dịch chuẩn, số đĩa lý thuyết của cột tính theo pic imperatorin không nhỏ hơn 3000.
Tiến hành sắc ký dung dịch thử và dung dịch chuẩn. Dựa vào diện tích pic thu được từ dung dịch thử, dung dịch chuẩn và hàm lượng C16H14O4 trong imperatorin chuẩn, tính hàm lượng imperatorin trong dược liệu.
Hàm lượng imperatorin (C16H14O4 ) trong dược liệu không được dưới 0,03 %, tính theo dược liệu khô kiệt.
Chế biến
Bạch chỉ thái phiến: Lấy củ Bạch chỉ khô, phân loại to nhỏ, đem rửa sạch, đưa vào ủ khoảng 4 h cho mềm; thái nghiêng thành lát mỏng (dày 2 – 3 mm); sau phơi trong bóng râm (không phơi nắng mất dược khí (tinh dầu); cho thật khô hoặc sấy ở nhiệt độ thấp (khoảng 30 °C) cho đến khô. Dùng sống trị cảm phong hàn, nóng rét, đau đầu.
Mô tả: Lát cắt (phiến) có kích thước không đồng nhất về hình dạng có thể là hình ô van dài, hình gần tròn hay gần giống hình chữ nhật, dày 2 – 3 mm. Bao quanh phiến là lớp vỏ mỏng màu nâu, mặt phiến màu nâu xám, nâu vàng, trắng hoặc trắng xám, có tinh bột; ở giữa các lát cắt tròn hay ô van có vòng của tầng libe-gỗ. Dược liệu bạch chỉ phiến khô, thể giòn, dễ bẻ gãy, mặt bẻ màu trắng, trắng xám hoặc nâu xám; mùi thơm hơi hắc đặc trưng; vị cay, hơi đắng.
Bột: Bột của dược liệu thu hái từ cây trồng ở Việt Nam thường có màu trắng hay trắng ngà, mùi thơm hắc, vị đắng. Bột dược liệu nhập khẩu có màu vàng nâu. Các đặc điểm khác giống như dược liệu chưa thái phiến.
Định tính, Độ ẩm, Tro toàn phần, Tro không tan trong acid: Yêu cầu và phương pháp thử như đối với dược liệu chưa thái phiến.
Tỷ lệ vụn nát: Không quá 5,0 % (Phụ lục 12.12).
Kim loại nặng: Không được quá 30 phần triệu (Phụ lục 9.4.8, phương pháp 3). Lấy 1 g dược liệu để thử. Dùng 3 ml dung dịch chì mẫu 10 phần triệu Pb (TT) để chuẩn bị mẫu dung dịch đối chiếu.
Chất chiết được trong dược liệu, Định lượng: Yêu cầu và phương pháp thử như đối với dược liệu chưa thái phiến.
Bạch chỉ tẩm giấm sao: Tẩm giấm sao theo hướng dẫn tại Phụ lục 12.20. Tẩm giấm để trị chứng lâm lậu.
Bạch chỉ sao cháy xém: Sao cháy theo hướng dẫn tại Phụ lục 12.20. Sao cháy sém để trị chứng đại tiện ra máu.
Bảo quản
Dược liệu chưa chế biến: Để nơi khô mát, tránh mốc, mọt.
Dược liệu đã chế biến: Để trong đồ đựng kín, nơi khô mát.
Nên dùng trong 30 ngày.
Tính vị, quy kinh
Vị cay, tính ôn. Vào các kinh phế, vị, đại trường.
Công năng, chủ trị
Giải biểu tán hàn, khu phong chỉ thống, hoạt huyết, tuyên thông tỵ khiếu, táo thấp chỉ đới, tiêu thũng bài nùng. Chủ trị: Cảm phong hàn, sốt cao, nhức đầu, nghẹt mũi, sổ mũi, đau nhức răng, đại tiện ra máu, phụ nữ khí hư ra nhiều bạch đới, mụn nhọt sưng đau, hóa mủ. Trị phong thấp, đau nhức các khớp xương, bí tắc huyết mạch.
Dùng ngoài: Trị mụn nhọt chốc lở; trị dị ứng sơn ta (lở sơn).
Cách dùng, liều lượng
Ngày dùng 6 g đến 12 g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài: Trị mụn nhọt chốc lở; sắc đặc 50 % bôi ngoài trị dị ứng sơn ta (lở sơn). Lượng thích hợp.
Kiêng kỵ
Người âm hư và hỏa uất không nên dùng.
Người có cơn cao huyết áp, bị cảm mạo, khi dùng Bạch chỉ điều trị cần cân nhắc liều lượng.
Tài liệu tham khảo
Dược Điển Việt Nam 6 – phiên bản mới nhất của Dược Điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 3960/QĐ-BYT ngày 26/12/2025. Trang 1236-1238, tải PDF tại đây
